Google

Mục Cây Thuốc Quý

Meleagris Lindl

Huntleya Meleagris Lindl
Huntleya Meleagris Lindl

(Maxlllarlea, Zygopetalinae) .
Đồng nghĩa : Batemania burtii Endres et Rchb.f Zygopetalum meleagrls (Lindl ) Benth.
Nguồn gốc: Brazil, Guyana, Venezuela
Mô tả: Cây cỡ trung bình không có mầm giả, lá mềm, hình ngọn giáo, kéo dài ra, nằm xếp sát lên nhau tạo thành 1 hình một cái quạt. dài 20 - 25cm. Cụm hoa gần nách lá thằng đứng ngắn hơn lá. cụm hoa có một hoa đơn dẹp và có chất 1 sáp nở lâu. Màu thay đổi nhưng luôn ở các dạng màu vàng.

Nuôi trồng: Trồng loài này trong các chậu nhỏ đạt được các kết qủa tốt, các chậu này phải phân nhạt gồm vỏ cây rêu và rêu nước hoặc sợi osmunda để duy trì độ ẩm đầy đủ. Quan trọng là bảo đảm không còn nước ở trong trục lá hoặc ở môi trường nuôi trồng vi rễ mảnh và dài dễ mục nếu có qúa. nhiều nước. Một kiểu phân nhánh tự do có thể phân ra, nhưng thao tác này cũng như trồng vào chậu lại chỉ nên thực hiên khi rễ mới bắt đầu mọc.



Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Ionopsis Utricularioides

Ionopsis Utricularioides (sw.) Lindi Ionopsis Utricularioides (sw.) Lindi(Cymbidieae. Oncidiinae)
Đồng nghĩa: Epidendrum utricularioides Sw.. Lonopsis
Nguồn gốc: Các vùng nhiệt đới và gần nhiệt đới châu Mỹ
Mô tả: Thông thường là giống cây nhỏ mặc dù một số cây có thể cao 20- 30cm. Các mầm giả có hình elip và bi ép lại dài khoảng 1 cm thỉnh thoảng có một lá đơn ở đỉnh nhưng theo lệ thường các mầm gỉa chỉ có 2 - 3 lá dài hẹp Hoặc hình ngọn giáo có đường gợn sóng cứng và xếp chồng lên nhau dài 3 - 15cm mọc ra từ gốc thân rễ cuộn tròn thân rễ. Cụm hoa gốc thẳng đứng phân nhánh có chiều dài tùy thuộc vào kích cỡ của cây cụm hoa gồm nhiều hoa nhỏ nở liên tục. Hoa phân bố màu từ trắng đến hồng có màu hoa oải hương và tím, hoa có các lá đài và cánh hoa nhỏ trong khi Môi hoa phân làm 2 thùy là mở rộng Lan nở từ đông sang xuân

Nuôi trồng: Loài này hơi mảnh mai và do đó cần có sự chăm sóc thành thạo. Loài này có thể trồng trên bè gỗ nhưng vì rễ cây mảnh mai, dễ gãy nên đừng bao giờ để khô hoàn toàn, tốt hơn hết là trồng nó trong một chậu nhỏ có ánh sáng, vỏ cây vụn hòa với rêu nước.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Laelia Flava Lindl

Laelia Flava Lindl Laelia Flava Lindl(Epidendreae Laeliinae)
Đồng nghĩa: Laelia fulvia. Lindl . Catleya Lutea Beer.
Nguồn gốc: Cây cỡ trung bình hầu hết các mầm giả hình trụ nằm gần sát nhau trên thân rễ cao 10- 20cm đỡ một lá đơn hình ngọn giáo thằng đứng thịt và cứng cơ có màu lục ánh lên màu tím nâu. Cụm hoa dài 30 - 40cm thường có hơn 10 bông hoa màu vàng chanh có đường kính 3cm gần 1đỉnh Lan thường nở vào mùa xuân.

Nuôi trồng: L. flava là một loại mọc giữa các tảng đá, tuy nhiên có thể thích ứng việc trồng trong chậu có vỏ cây hoặc sợi dương xỉ. Suốt thời kỳ tăng trưởng cây cần tưới nước đều đặn nên ngưng tưới sau khi cây hoàn toàn phát triển.Trồng vào chậu lại phơi tiếp tục chăm sóc đặc biệt chỉ nên tiến hành trồng vào chậu lại khi thật sự cần thiết. Loài này không thích bi quấy rầy

Posted in | 0 nhận xét

Kingidium Deliciosum

Kingidium Deliciosum (Rchb. f).Sweet
Kingidium Deliciosum (Rchb. f).Sweet

(Vandeae. Sarcanthinae)
Đồng nghĩa: Kingiella decumbens (Griff) P.H. Hunt, Phalaenpsis deliciosa Rchb.f.

Nguồn gốc: Ấn Độ, Srilanka Đông Nam Á .
Mô tả: Cây cỡ nhỏ có kết cấu đơn trục (nghĩa là không có mầm giả lẫn thân rễ) Gốc của thân rất nhỏ hoàn toàn được bao bọc bởi 4 - 5 1á hành bầu dục dẹt có các máp gợn sóng lá hơi béo dài 10 - 15cm Các cụm hoa gần nách lá phân nhánh thẳng đứng hoặc uốn cong dài khoảng 10cm bao gồm một số lượng hoa từ đinh hương nhỏ nở liên tiếp

Cây đâm cành non nhiều. Bề ngoài chung chung giống một loài Phalaenopsis nhỏ. Lan nở hoa vào nhiều thời điểm trong năm nhưng đặc biệt là vào mùa hạ

Nuôi trồng: Cây không cần phải đặc biệt chú ý nhưng như ở trường hợp của Phalaenopsis và Doritis không nên để ứa nước xung quanh chóp cây tốt hơn hết là trồng trong chậu nhỏ. Thao tác trồng lại vào chậu cần được tiến hành đều đặn hằng năm khi cây đá phân nhánh quá nhiều có tách ra


Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Laelia Jongheana

Laelia Jongheana Rchb. f. Laelia Jongheana Rchb. f.

(Epidendreae, Laeliinae)
Nguồn gốc: Brazil
Mô tả: Cây cỡ trung bình nhỏ. Các mầm giả dạng trứng và hơi bị ép lại, cao 6 - 8cm ở trên đính mọc một lá hình elíp, thẳng đứng, dẻo dai, dài khoảng 12cm. Cụm hoa đỉnh (mọc từ đỉnh mầm giả), gồm 1 - 2 bông hoa lớn, có đường kính 14cm, hoa màu hồng có môi ánh lên màu vàng, Môi hoa có 7 phiến mỏng nằm trên đĩa của thùy chính. Loài này hơi hiếm có trong các bộ sưu tập,được xem là một trong loài đẹp nhất của giống này. Thời kỳ ra hoa từ cuối đông đến đầu xuân.

Nuõl trồng: Loài L. Jongheana có thể trồng trên bè hoặc trong chậu có vỏ cây, sợi cây dương xỉ hoặc osmunda. Nếu chăm sóc tốt, cây tạo ra một số các cành non cùng một lúc.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Jumellea Saglttata

Jumellea Saglttata Jumellea Saglttata(Vandeae. An~aecinae)
Nguồn gốc: Madagascar
Mô tả: Cây cỡ lớn, lá dài hẹp, xếp chồng lên nhau, phân làm 2 thùy không cân xứng có răng cưa ở đỉnh mép lá dẻo dai dài khoảng 30cm các cây trưởng thành rụng các lá phía dưới của chúng. Thường có nhiều cành hoa gắn nách lá dài 9 - 10cm mỗi cành có một bông hoa trắng lấp lánh hoa có 1 một cái Môi hoa; dài 5 - 6cm và nở khoảng 10 ngày lan nở

Nuôi trồng: Loài này giống như nhiều loài khác Angraecinae dễ trồng và mọc tự do tạo thành các mẫu lởn có thể trồng trong chậu hoặc trong giỏ với bất kỳ loại môi trường nuôi trồng nào cung cấp ánh sáng và thoát nước tốt. Nên tưới nước đều đặn quanh năm mặc dù hơi giảm lại sau khi đà phát triển đầy đủ. Trồng lại vào chậu không gây nên vấn đề gì nhưng chỉ nên tiến hành khi cần thiết.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Laelia Grandis Lindl

Laelia Grandis Lindl Laelia Grandis Lindl(Epidendreae, Laeliinae)

Nguồn gốc: Brazil
Mô tả: Cây cỡ trung bình lớn. Các mầm giả hình con thoi hơi bị ép lại, cao khoảng 20cm và đỡ ở trên đỉnh một lá đơn hình ngọn giáo, cứng đơ, dai, dài khoảng 30cm và rộng 5cm. Cụm hoa có 3 - 5 hoa có đường kính 1 0 - 12cm và cụm hoa vươn ra từ mô. Hoa màu trắng và tím nở cùng một lúc và nở vài ngày. Lá đài và cánh hoa có gợn sóng hơi xoắn theo đường xoắn ốc, rất đặc thù. Lan nở hoa vào mùa xuân.

Nuôi trồng: Loài này giống như tất cả các loài Brazilian laelias, cần nhiều ánh sáng và nhiệt độ hơi cao. Tốt hơn hết là trồng trong chậu có vỏ cây. Loài này và loài bà con L.purpurata và L. tenebrosa, nên giảm tưới nước sau sự phát triển hoàn toàn của sự tăng trưởng mới.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây Đại Hoàng

Cây đại hoàng
Cây đại hoàng

Tên dược: Radix et Rhizoma rhei
Tên thực vật: 1. Rheum palmatum L.; 2. Rheum officinale Baill.; 3. Rheum tanguticum Maxim. ex Balf.
Tên thông thường: Ðại hoàng
Bộ phận dùng và phương pháp chế biến: Củ hoặc rễ được đào vào mùa thu hoặc mùa xuân. Sau khi loại bỏ củ xơ và bỏ vỏ, củ được thái miếng và phơi nắng cho khô.

Tính vị: Ðắng, lạnh

Quy kinh: Tỳ, vị, đại trường và can

Công năng: 1. Nhuận tràng; 2. Hạ hỏa và giải độc; 3. Hoạt huyết

Chỉ định và phối hợp:

Táo bón: a) nhiệt tích gây táo bón. Ðại hoàng phối hợp với Mang tiêu trong bài Ðại thừa khi thang; b) hàn tích gây táo bón. Ðại hoàng phối hợp với Phụ tử chế và gừng khô (Can khương) trong bài Ôn tỳ thang; táo bón do nhiệt tích và âm hư. Ðại hoàng phối hợp với Sinh địa hoàng, Huyền sâm và Mạch đông trong bài Tăng dịch thừa khí thang.

Thoát mạch và huyết nhiệt biểu hiện nôn máu và chảy máu cam, hoặc cơn bốc hỏa biểu hiện mắt đỏ, sưng đau, đau họng, lợi sưng đau. Hai hội chứng này được điều trị bằng phối hợp Ðại hoàng, Hoàng kiên và Hoàng kỳ trong bài Tả tâm thang.

Mụn nhọt. Ðại hoàng phối hợp với Ðào nhân và Mẫu đơn bì.

Huyết ứ biểu hiện mất kinh, bế sản dịch sau đẻ, đau bụng sau đẻ, khối ở bụng và ngoại thương. Ðại hoàng phối hợp với Xuyên khung, Ðào nhân, Hồng hoa và Mẫu đơn bì.

Liều lượng: 3-12g

Thận trọng và chống chỉ định: Thuốc tươi có tác dụng nhuận tràng mạnh. Sao với rượu làm tăng tác dụng hoạt huyết. Thuốc đốt tồn tính được dùng trong bệnh có xuất huyết. Sắc thuốc quá lâu làm giảm tác dụng nhuận tả của thuốc. Chông chỉ định dùng trong thời kỳ kinh nguyệt và khi có thai.


Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây Dâu Tằm

11 bài thuốc từ cây dâu tằm
11 bài thuốc từ cây dâu tằmĐể chữa thiếu máu, mất ngủ, lấy quả dâu chín ngâm với đường (hoặc mật ong), pha nước uống mỗi ngày. Uống liên tục nhiều ngày càng tốt. Nếu mất ngủ, nên uống vào buổi tối trước khi lên giường.

Các bài thuốc khác từ cây dâu:

1. Bổ huyết, dưỡng huyết

Phù tang chí bảo là một bài thuốc hay đã được đề cập trong các y thư cổ như Nam dược thần hiệu, Hải Thượng y tông tâm lĩnh... Uống được ít lâu nếu thân thể mọc đầy mụn thì đó là do sức thuốc đẩy ra, không nên cho là quái lạ. Nhưng sau 3 tháng, khắp mình sẽ tươi sáng, da dẻ mịn màng. Nếu uống liên tục nửa năm thì khí lực trở nên mạnh mẽ lạ thường, tật bệnh dần dần tiêu tan. Trường kỳ uống mãi thì gân cốt rắn chắc, khí huyết dồi dào, tỏ tai sáng mắt, tinh thần khoan khoái, tăng thêm tuổi thọ.

Cách bào chế: Lá dâu và vừng đen lượng bằng nhau. Vừng xát tróc vỏ, đem đồ chín, “cửu chưng cửu sái” (nghĩa là chín lần đồ, chín lần phơi). Cả hai thứ đem tán bột, luyện mật làm thành viên hoàn.

Theo Tuệ Tĩnh, lá dâu cần chọn lá non, hái lúc mặt trời chưa mọc, độ vài ba chục cân (cân ta), rửa sạch bụi đất, phơi nắng cho khô. Dùng lá dâu vườn càng tốt vì các cụ cho rằng dâu núi có thể bị nọc độc của rắn, rết dây vào.

2. Chữa thong manh, đau mắt

Lá dâu tươi đem về giã nát, phơi khô, đốt thành than, nấu lấy nước rửa mắt.

Để chữa đau mắt gió hay chảy nước mắt: Lá dâu hái vào tháng Chạp, hãm lấy nước rửa hằng ngày.

3. Chữa đau nhức

Phụ nữ đến kỳ kinh nguyệt chưa dứt đã vội động phòng, sinh chứng toàn thân đau nhức như dùi đâm. Có thể chữa bằng bài thuốc: lá dâu già, lược gãy, nệm rách, tóc rối liều bằng nhau, đem đốt tồn tính, tán nhỏ, mỗi lần uống 3 đồng cân (khoảng 12 g) với nước nóng.

4. Chữa hen suyễn

Lá dâu già, lá thầu dầu già, trấu (sao mật) tán nhỏ, thắng mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống một viên với nước sôi.

5. Chữa huyết áp cao

- Lá dâu bánh tẻ một nắm nhỏ, cá diếc sống một con. Cá diếc cho vào chậu nước muối để nhả hết nhớt dãi; không mổ, để nguyên con đem luộc, gỡ lấy thịt nấu canh với lá dâu ăn.

- Thịt trai sông 50-100 g, lá dâu tươi 20 g thái nhỏ, nấm hương 20 g, hành củ khô 2-3 củ. Nấu cháo ăn hằng ngày, có tác dụng hạ huyết áp tốt. Bài thuốc này thích dụng với người cao tuổi bị tăng huyết áp và u xơ tiền liệt tuyến có các dấu hiệu tiểu không thông, tiểu đêm, tiểu nhiều lần... Đặc biệt người tăng huyết áp bị suy giảm khả năng tình dục cũng nên dùng.

6. Tẩy sán xơ mít

Dùng dao tre cạo lấy vỏ trắng cành dâu 3 nắm, nước 3 bát, sắc lấy một bát. Tối hôm trước phải nhịn ăn, sáng sớm uống lúc bụng đói, sán sẽ ra hết. Uống 2-3 lần.

7. Chữa tiểu buốt, nước tiểu đục

Tổ bọ ngựa cây dâu mỗi lần 1 cái nướng khô, tán nhỏ, uống với rượu lúc đói, uống 2-3 lần là khỏi, chữa tiểu buốt.

Ngài tằm cấu bỏ đầu, chân, cánh; sấy khô, tán nhỏ, giã với cơm làm viên bằng hạt ngô, uống với nước muối lúc đói để chữa chứng đi tiểu nước tiểu đục, trắng.

8. Chữa viêm họng

- Mộc nhĩ cây dâu lấy vào ngày 5 tháng 5 âm lịch, thứ trắng như vẩy cá. Khi dùng giã nhỏ, lấy lụa bọc lại thành viên, tẩm mật ngậm.

- Bạch cương tàm (con tằm vôi) 6 đồng cân, phèn chua 3 đồng cân, phèn chua phi 3 đồng cân. Tất cả tán nhỏ, mỗi lần dùng 1 đồng cân (khoảng 4 g) uống với nước gừng để gây nôn. Trẻ em thì pha thêm bạc hà vào nước gừng, nếu nôn ra với đờm đặc thì rất công hiệu.

- Bạch cương tàm sao, tán nhỏ, giã lẫn với quả mơ muối, viên bằng đầu ngón tay, bọc lụa lại mà ngậm, nuốt nước dần...

9. Chữa tóc rụng, tóc bạc

Nước quả dâu ngâm đường có thể giúp tóc đen và mọc nhiều.

10. Chữa viêm tuyến vú

Đọt dâu non 1 nắm, giã nhỏ đắp vào chỗ vú sưng, bên ngoài lấy giấy dấp nước đắp, khi khô lại thay, đến khi tan hết thì thôi.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cỏ roi ngựa

Cỏ roi ngựa Cỏ roi ngựa

Tên khoa học : Verbena officinalis

Cỏ roi ngựa ngày xưa là cây thuốc quan trọng. Người Ai cập gọi nó là „ nước mắt Isis " và sử dụng trong các nghi lễ để thanh tẩy đền thờ. Ngày nay ngưòi ta tìm thấy trên thị trường phần nhiều các cỏ roi ngựa từ từ nam Mỹ. Loại ở Âu châu phần nhiều đã bị lãng quên.

Loại cỏ roi ngựa ở Âu châu có tác dụng chữa bịnh mạnh hơn loại ở nam Mỹ. Bù lại loại từ nam Mỹ có vị chua nhiều(chanh ) cho nên thường được dùng làm trà

Tác dụng chữa bịnh:
Đau cổ, ho, sưng đường khí quản, nhuận tiểu, tiêu sạn thận, hỗ trợ kinh nguyệt, sanh nở, tạo sữa (các bà mẹ)

Theo Hildegard von Bingen thì cây cỏ roi ngựa rất mất và có tác dụng sát trùng. Ðể trị các mụn u nhọt nên nấu cỏ roi ngựa và dùng bã đắp lên vài lần mụn sẽ xẹp đi.

Loại cây :

Là cây một đến hai năm, trổ hoa tím trên cuống dài 10 – 20 cm, cây có chiều cao từ 20-80 cm, rễ mọc sâu đến 60 cm và thường mọc tại các vùng đất nhiều nitơ, nhiều chất mùn


Có chứa chất: hương thơm, verbenalin (glycoside), alkaloid, tannin, silicic acid


Thời gian thu hoạch làm thuốc:
Tháng 7, tháng 8 trong lúc cây đang trổ hoa

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Ý dĩ Nhân

Ý dĩ nhân Ý dĩ nhân1. Tên dược: Semen coicis.
2. Tên thực vật: Coix lachryma - jobi L var ma yuen (Roman).
3. Tên thường gọi: coix seed (ý dĩ nhân)
4. Bộ phận dùng và phương pháp chế biến: hạt của quả thu hái vào mùa thu, loại bỏ vỏ cứng của quả.
5. Tính vị: ngọt hoặc không vị và hơi hàn.
6. Qui kinh: tỳ, vị và phế.
7. Công năng: trừ thấp và tăng chuyển hoá nước, bổ tỳ, thanh nhiệt và loại mủ.
8. Chỉ định và phối hợp:

- Tỳ kém biểu hiện như phù, thiểu niệu hoặc ỉa chảy: Dùng phối hợp ý dĩ nhân với trạch tả và bạch truật.

- Thấp nhiệt giai đoạn đầu do các bệnh về sốt mà các yếu tố bệnh lý là do khí: Dùng phối hợp ý dĩ nhân với hoạt thạch, trúc diệp và thông thảo dưới dạng tam nhân thang.

- Tính thấp nhiệt hoặc ứ khí huyết biểu hiện như áp xe phổi và áp xe ruột: Dùng phối hợp ý dĩ nhân với đông qua nhân, vĩ kinh và táo nhân dưới dạng vĩ kinh thang để dùng cho áp xe phổi có ho, đờm và mủ. Dùng phối hợp ý dĩ nhân với bại tương thảo để trị áp xe ruột

9. Liều dùng: 10-30g.
10. Thận trọng và chống chỉ định: để làm thuốc bổ và kiện tỳ, ý dĩ nhân phải dùng dưới dạng rán khô.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây thìa canh

Cây thìa canh chữa bệnh
Cây thìa canh chữa bệnhGymnema sylvestre, g. Melicida
Asclepias Geminata , Periploca Sylvestris
Họ thiên lý (Asclepiadacea)

Ngoài cây mướp đắng, ngành y khoa Ayurvedic Aán Độ còn ghi nhận thêm một số cây khác có tác dụng hạ đường huyết và đã có nghiên cứu công nhận tính chất này:
• 1. cây dừa cạn (catharanthus roseus)
• 2. cây hương nhu hay é tiá (ocimum sanctum)
• 3. cây vối rừng (eugenia jambolana hay syzygium jambolana)
• 4. dây thần thông hay dây ký ninh (tinospora cordifolia)
• 5. cây thìa canh (gymnema sylvestre)

Có khoảng 70 nghiên cứu về tính chất hạ đường huyết và giảm mỡ của cây thià canh và cây này được bán dưới dạng health food tại Hoa Kỳ và Nhật Bản. Cây này có ở vùng bắc VN và có tên trong sách " Những cây thuốc VN " của Võ Văn Chi. Đây là loại dây leo, thân gỗ, thường gặp ở Phi châu, Aán Độ. Lá cây thià canh được dùng ở Aán Độ từ 2.000 năm nay để trị bệnh “nước tiểu ngọt” như mật (madhu meha). Nhai lá làm vị giác mất khả năng nhận biết được vị ngọt nên có tên là "gurma" hay chất hủy diệt đường.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC
Chất chính của cây có tác dụng làm giảm đường là gymnemic acid, conduritol. Ngoài ra còn có 2 résin (một tan trong rượu), saponin, stigmasterol, quercitol, các dẫn xuất acid amin bétain, choline và trimethylamine.

Gymnemic acid là những saponin với cấu trúc triterpenoid, có trên 10 loại và những chất liên hệ được cô lập. Mỗi gymnemic acid trong lá chiếm khoảng 0,05% - 0,12%. Vì thường khó tách rời từng gymnemic acid nên người ta thường nghiên cứu chung cho toàn thể gymnemic acid.

CƠ CHẾ TÁC DỤNG:
Cây Thià canh tác dụng với cơ chế kép: nghiên cứu trên động vật bị gây tiểu đường bằng beryllium nitrate và streptozotocin làm tăng gấp đôi lượng tế bào béta tụy tạng và làm đường huyết bình thường trở lại.

G. sylvestre tăng hoạt enzym giúp tế bào thu nhận và sử dụng đường, ức chế sử dụng glucoz ở ngoại vi dưới tác dụng của somatotropin và corticotropin. Cao thià canh còn ngăn đường tăng cao do epinephrine.

Tế bào vị giác có cấu trúc giống tế bào hấp thụ đường, còn gymnemic acid gồm những phân tử sắp xếp giống phân tử đường glucoz trám đầy các các vị trí thụ thể trong tế bào vị giác từ 1-2 giờ, làm các tế bào này không bị khích động bởi đường trong thức ăn và không hấp thụ đường trong ruột.

DƯỢC TÍNH:
Cây có tính kích thích dạ dày, làm se da, lợi tiểu, bổ dưỡng và giảm đường trong máu ở thú vật cũng như ở người, làm mất vị giác đắng và ngọt (kể cả aspartam) nhưng không ảnh hưởng đến vị giác chua, chát, cay. Tác dụng này có lẽ do ức chế thần kinh hơn là tương tác hoá học. Tác dụng này quá đặc biệt với vị ngọt cho nên các vị ngọt khác nhau của đường, acid amin và các chất ngọt hoá học đều mất. Cần nhiều giờ mới phục hồi được vị giác nhưng kháng thể chống gurmarin trong huyết thanh có thể rút ngắn thời gian này. mặt khác, tiêm mạch gurmarin không làm mất vị giác ngọt. Do đó, người ta nghĩ gurmarin tác dụng trên đỉnh của tế bào vị giác và có lẽ đã bám lên thụ thể protein của vị giác ngọt.

Tính hạ đường huyết: Một nghiên cứu so sánh cao thìa canh (100mg/kg/ngày) với tolbutamide (5mg/kg/ngày) trên chuột lớn (cho uống trong 1 tháng), kết quả cho thấy cây thià canh hạ đường huyết tương đương với tolbutamid. Chưa biết rõ mức độ an toàn nếu dùng lâu dài. Cần nghiên cứu thêm.

Thí nghiệm trên 22 bệnh nhân tiểu đường loại II: cho uống cao thìa canh 400mg/ ngày, từ 18-20 tháng cùng với thuốc trị tiểu đường. Nhóm này giảm đường và hemoglobin A1C đáng kể và tăng lượng insulin tiết ra từ tụy tạng. Lượng thuốc uống trị tiểu đường cũng giảm và 5 người có thể bỏ thuốc hoàn toàn.

Tác dụng giảm mỡ và cholesterol trong máu: nghiên cứu cho chuột uống dịch chiết cao lá thìa canh (GSE), chất kết tủa từ dịch chiết ở môi trường acid (GSA) và phân tách cột (GSF) của gymnemagenin nhưng không cho chuột uống nước tự do rồi phân tích lượng steroid tiết ra theo phân. Mặc dù thể trọng và lượng thức ăn không thay đổi đáng kể, lượng GSF tách rời theo cột làm tăng lượng steroid trung tính tiết ra theo phân, đặc biệt là acid mật phụ thuộc steroid trung tính và acid cholic. Chứng minh trên cho thấy liều cao thìa canh làm tăng sự bài thải cholesterol và acid cholic theo phân.

Tác dụng chống béo phì: thuốc trị béo phì OB-200G bán ở Aán Độ là một hợp chất gồm: • - cây thià canh (gymnema sylvestre)
• - cỏ đuôi lươn (garcinia cambogia – G. cochinchinensis)
• - gừng (zingiber officinale)
• - tiêu lốt hay tiêu hoa tím (piper longum)
• - nhữa một dược (myrrha) từ cây commiphora mokul (C. Momol là một dược họ trám).
Kết quả thử nghiệm của ĐH Panjab Aán Độ trên chuột cho thấy: OB-200G đối kháng đáng kể đối với hiệu quả thèm ăn của PCAP (p – chlorophenylalanine), 8 -OH-DAPAT (di-N-propylamino-tetralin), cyproheptadin.

ĐỘC TÍNH:
Độc tính chưa được biết nhiều. Nghiên cứu ở thú không cho nhiều chi tiết về mức độ an toàn. Không thấy báo cáo về tính độc hại cho người và chưa rõ mức độ an toàn nếu dùng dài ngày. Liều trên 10 viên G. Sylvestre / ngày có thể tạo tác dụng hạ đường huyết.

Cần nghiên cứu thêm về tác dụng trị tiểu đường và hạ mỡ. Hy vọng có thể dùng cây thià canh cho những bệnh nhân bị lờn tác dụng của insulin.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây sả

Cây sả chữa bệnh Cây sả chữa bệnhSả, Sả chanh hay Cỏ sả - tên khoa học Cymbopogon Citratus (DC) Stapf, thuộc họ lúa – Poaceae. Cỏ cao khoảng 1,5m sống lâu năm, mọc thành bụi, phân nhánh nhiều. Thân rễ trắng hoặc hơi tía. Lá dài tới 1m, hẹp, mép hơi ráp; bẹ trắng, rộng. Cụm hoa gồm nhịều bông nhỏ không cuống

Sả là loại có mùi thơm sớm đựơc phát triển ở nước ta từ trước thế kỷ thứ 5 sau công nguyên. Ngay nay sả được trồng rộng rãi ở các vườn gia đình để lấy thân rễ làm gia vị ăn sống, ướp với thịt lợn cho thơm nấu thịt chó, làm dưa ăn. Lá Sả dùng nấu nước gội đầu và thường dùng hối hợp với các loài cây có tinh dầu khác trông nồi xông giải cảm cổ truyền.

Sả cũng được dùng cất 1 thành phần chủ yếu là citral và geraniol) nhưng lượng tinh dầu kém hơn nhiều loài Sả khác hiện được trồng đại trà ở nước ta là Sả Java hay Sả xoè (Cymbopogon Winterianus Jowitt) có hàm lượng tinh dầu cao (8-10%).

Ta còn trồng loại Sả hồng hay Sả rộng, Sả palma-rosa (Cymbopogon martinii (Roxb.) (Wats.). Ngoài công dụng làm gia vị củ Sả lá Sả và tinh dầu Sả đều được sử dụng làm thuốc đã từ lâu đời trong nhân dân ta. Sả có vị cay, tính ấm có tác dụng làm ra mồ hôi, ấm bụng, giúp tiêu hoá, khỏi nôn, thông khí, sát trùng, khử uế, tiêu dờm... Thường được chỉ định dùng điều trị 1. Đau đầu. đau bụng, ỉa chảy; 2. Thấp khớp, đụng giập, cầm máu; Kinh nguyệt không đều, phù sau khi sinh. Sả được sử dụng nhiều qua kinh nghiệm dân gian. Lá Sả phối hợp với các loài cây có tinh dầu khác (Hương nhu, Húng chanh, Bưởi...) nấu nước dùng xông chữa cảm cúm, sốt. Lá Sả dùng pha nước uống giải nhiệt và thông tiểu, tiêu thực. Nõn Sả muối dưa ăn phòng ngừa sơn lam chướng khí, sốt rét ngã nước.

Củ Sả non, thái nhỏ, phơi khô tán bột làm tiêu hoá (phối hợp với mạch nha), tẩy uế răng miệng, hội nách (phối hợp với phèn phi) Củ sả nấu nướng uống thông tiểu làm ra mồ hôi. Dùng ngoài rã nát chữa chàm mặt trẻ em. Dùng củ sả (2 nắm) phối hợp với cỏ xước, rễ cỏ tranh hoặc bông mã đề (mỗi thứ một nắm) chữa bỗng dưng phù nề hai chân, đái ít thấp thũng.

Tinh dầu sả được dùng phun muỗi và trừ hôi thối, dùng xoa ngoài chữa cúm, phòng bệnh truyền nhiễm. Pha vào nước nóng uống mỗi lần 10-15 giọt chữa cảm cúm hay cảm mưa uớt, sốt gai rét mà không ra mồ hôi. Với lìêu thấp hơn (6-8 giọt) uống vài ba lần chữa nôn, đầy, ỉa chảy.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Hoa hòe

Hoa hòe cầm máu
Hoa hòe cầm máu

Không chỉ chữa chảy máu cam, ho ra máu, hoa hòe còn có tác dụng đề phòng xuất huyết não cho những bệnh nhân tăng huyết áp, mao mạch dễ vỡ.

Theo Đông y, hoa hòe vị đắng, tính hơi lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, cầm máu, chữa các chứng xuất huyết, chảy máu cam, trĩ ra máu, lỵ ra máu, cao huyết áp... có kết quả tốt.

Hiện nay, hoa hòe không những được dùng trong Đông y mà còn là một nguồn dược liệu quan trọng của ngành dược hiện đại. Từ nó, người ta đã chiết xuất được chất rutin có tác dụng làm tăng sức chịu đựng và giảm sự thẩm thấu của các mao mạch, để sản xuất nhiều vị thuốc phòng và chữa các chứng xuất huyết, tai biến mạch máu não ở người tăng huyết áp.

Bộ phận được dùng làm dược liệu, chiết xuất rutin chủ yếu là nụ hoa hòe chưa nở, lúc này hoa có hàm lượng rutin cao nhất. Nếu hoa đã nở, hàm lượng rutin giảm rõ rệt nên chất lượng dược liệu cũng giảm. Vì vậy bao giờ người ta cũng thu hoạch hoa hòe vào lúc có nhiều nụ to, chưa nở hoa, trọng lượng và chất lượng dược liệu sẽ cao hơn.

Trong nhân dân, hoa hòe được dùng chủ yếu làm thuốc cầm máu trong các bệnh ho ra máu, chảy máu cam, tiểu tiện ra máu, ruột chảy máu... Liều dùng mỗi ngày 8-16 g dưới dạng thuốc sắc. Chất rutin chiết xuất từ hoa hòe thường được dùng cho những bệnh nhân tăng huyết áp, mao mạch dễ vỡ để đề phòng xuất huyết não và các chứng xuất huyết khác.

Hoa hòe còn được dùng để nhuộm màu thực phẩm (tạo màu vàng), vừa đẹp vừa lành. Pha nước hoa hòe vào rượu, rượu sẽ có màu vàng cam. Ngâm gạo nếp với nước hoa hòe để nấu xôi hay cho vào bột làm bánh, các món ăn trên sẽ có màu vàng nghệ tươi nom rất hấp dẫn.


Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Hoa Thiên Lý

Hoa Thiên lý - Một loài cây giá trị Hoa Thiên lý - Một loài cây giá trị

Cây thiên lý có tên khoa học là Telosma cordata (Burm.f) Merr, thuộc họ Asclepaadaceae, thường được trồng làm giàn dây leo làm cảnh cho bóng mát trong vườn hoặc trước sân nhà ở các nước như Thái lan, Inđônêxia, Malaixia, Trung Quốc, Việt Nam, một số nước Châu Âu, Châu Phi.

Hoa Thiên lý có nhiều dưỡng chất như 2,9g protein, 2,8g glueid, 3g chất xơ, 52mg calcium, 53mg phosphor, 1,2mg sắt, 1,17mg tiền sinh tố A, 0,19g sinh tố B1, 0,13mg B2, 1,1mg PP, 48mg sinh tố C và các khoáng chất cần cho cơ thể như calci, phospho, sắt, kẽm; là thức ăn ngon và bổ dưỡng của người Việt Nam dùng nấu canh hoa thiên lý với thịt, canh cua thiên lý, thiên lý xào tép, hoa thiên lý chiên giòn. Ngoài ra, hoa thiên lý còn có giá trị dược học dùng giải nhiệt, an thần, mệt mỏi, đau lưng...

Cây có dạng hình thân thảo, dây leo; hoa mọc thành chùm ở nách lá, trổ hoa vào mùa hè, tỏa hương thơm vào ban đêm nên còn có tên Dạ lài hương, nước ngoài gọi là Queen of the night (Hoàng hậu của màn đêm).

Cây thiên lý thích ánh sáng, nhiệt độ thích hợp là 30-350C, sinh sản hữu tính và vô tính, có thể trồng quanh năm.

Để trồng thiên lý người ta thường chọn hom dây có đường kính 5-10mm, cắt thành từng đoạn 30-80cm và xử lý thuốc trừ nấm bệnh rồi ươm trong bầu hoặc trong chậu. Cây thiên lý có thể trồng trong bồn có giàn cho dây leo làm cây cảnh ở trước nhà, trong vườn hoặc trồng ở ngoài ruộng. Đất trồng cây thiên lý thích hợp là thịt pha cát, đất phải tơi xốp, thoát thủy tốt; nếu trồng ở ruộng phải cày xới cho tơi nhuyễn, lên líp cao 40cm, rộng 40cm, đào hố kích thước 30x40cm. Để cây thiên lý phát triển tốt và có hình dáng đẹp, người trồng phải thường xuyên chăm sóc như tưới nước đủ ẩm, tỉa bỏ dây nhỏ, lá già, cột dây tạo hình dạng dây leo theo ý thích, chú ý phòng trừ các loài sâu bệnh như rệp, nấm muội. Trồng thiên lý ngày nay có thể mang lại thu nhập trên 50 triệu đồng/ha.

Cây thiên lý đã gắn với tình cảm người Việt Nam qua những câu ca dao như Thương chồng nấu cháo le le, nấu canh hoa lý, nấu chè hạt sen hay lời nhạc Tóc em dài em cài bông hoa lý, thấy em cười, anh để ý anh thương, đôi ta chung một con đường, đường đi xây dựng quê hương đẹp giàu (Phạm Thúy Hoan) hoặc kỷ niệm nào êm êm bằng những chiều bên giàn thiên lý (Hoàng Thi Thơ).

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây Hướng Dương

Cây hướng dương - vị thuốc quý
Cây hướng dương - vị thuốc quý/Để chữa cao huyết áp, có thể dùng lá hướng dương khô 30 g (hoặc 60 g lá tươi), thổ ngưu tất 30 g, sắc nước uống thay trà trong ngày. Còn với chứng ù tai, mỗi ngày nên dùng vỏ hạt hướng dương 15 g, sắc lấy nước uống.

Hướng dương còn được gọi là hướng dương quỳ tử, thiên quỳ tử, quỳ tử, quỳ hoa tử; tên khoa học Helianthus annuus L. Các thí nghiệm trên động vật cho thấy, chất phosphatide trong hạt hướng dương có tác dụng dự phòng các chứng cao mỡ máu cấp và tăng cholesterol máu mạn tính. Chất axit Linolenic trong hạt hướng dương có tác dụng chống hình thành huyết khối đối với chuột thí nghiệm.

Theo Đông y, toàn bộ cây hướng dương đều có thể dùng làm thuốc:

- Hạt: Vị ngọt, tính bình, không độc, dùng chữa tinh thần uất ức, thần kinh suy nhược, chán ăn, đau đầu do suy nhược, đi lỵ ra máu, sởi không mọc được.

- Vỏ hạt: Chữa tai ù.

- Hoa: Có tác dụng trừ phong, sáng mắt, dùng chữa đầu choáng váng, mặt sưng phù, thúc sinh cho phụ nữ.

- Khay hạt: Chữa đau đầu, mắt hoa, đau răng, đau dạ dày và bụng, phụ nữ thống kinh, sưng đau lở loét.

- Lá: Tăng cường tiêu hóa và chữa cao huyết áp.

- Lõi thân cành: Chữa tiểu tiện xuất huyết, sỏi đường tiết niệu, tiểu tiện khó.

- Rễ: Chữa đau tức ngực, sườn và vùng thượng vị, thông đại tiểu tiện, mụn nhọt lở loét chảy nước vàng.

Một số bài thuốc:

- Ho gà: Dùng lõi thân và cành cây hướng dương 15-30 g, giã nát, hãm nước sôi, thêm đường trắng và uống trong ngày.

- Thượng vị đau tức do ăn không tiêu: Dùng rễ cây hoa hướng dương, hạt mùi, tiểu hồi hương mỗi vị 6-10 g, sắc nước uống.

- Kiết lỵ đại tiện xuất huyết: Dùng hạt hướng dương (đã bóc vỏ) 30 g, hãm với nước sôi trong 1 tiếng, pha thêm chút đường phèn uống trong ngày.

- Đại tiện không thông: Dùng rễ cây hoa hướng dương giã nát, vắt lấy nước cốt, hòa thêm chút mật ong uống. Mỗi lần uống 15-30 g, ngày uống 2-3 lần.

- Chữa tiểu nhỏ giọt, dương vật đau buốt: Dùng rễ cây hoa hướng dương tươi 30 g sắc với nước uống (chỉ đun sôi một vài phút, không nấu quá lâu sẽ mất tác dụng). Hoặc dùng lõi thân và cành cây hướng dương 15 g, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục trong nhiều ngày.

- Tinh hoàn sưng đau: Dùng rễ cây hoa hướng dương 30 g, sắc với đường đỏ uống.

- Sỏi thận, sỏi đường tiết niệu: Dùng lõi thân cành cây hướng dương một đoạn dài 1 mét, cắt ngắn, sắc nước uống mỗi ngày 1 thang, dùng liên tục trong một tuần.

- Đau bụng kinh: Dùng khay hạt hướng dương 30-60 g, sắc lấy nước, hòa thêm đường đỏ uống trong ngày.

- Viêm tuyến vú: Dùng khay hạt hướng dương bỏ hết hạt, thái nhỏ, sao vàng, tán thành bột mịn. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 9-15 g, hòa với rượu hoặc nước sôi, sau khi uống lần thứ nhất nếu ra mồ hôi thì mới có kết quả (Trung dược đại từ điển).

- Ung nhọt sưng tấy, lở loét: Dùng khay hạt thiêu tồn tính, nghiền thành bột mịn, hòa với dầu vừng bôi vào chỗ bị bệnh.

- Ngoại thương xuất huyết: Dùng lõi thân và cành cây hướng dương giã nát, đắp vào chỗ chảy máu.

- Đau răng: Hoa hướng dương phơi hoặc sấy khô, nhồi vào tẩu thuốc lá hoặc nõ điếu cày, hút như thuốc lá hoặc thuốc lào. Hoặc: Dùng khay hạt hướng dương, rễ câu kỷ tử mỗi thứ 10-15 g, luộc với trứng gà, ăn trứng gà và uống nước thuốc.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây Ổi

Các bài thuốc từ cây ổi
Các bài thuốc từ cây ổiCác bệnh nhân tiểu đường có thể lấy quả ổi 250 g rửa sạch, thái miếng, dùng máy ép lấy nước, chia uống 2 lần trong ngày; hoặc dùng lá ổi khô 15-30 g sắc uống mỗi ngày.

Ổi có tên khoa học là Psidium guajava L., dân gian còn gọi là phan thạch lựu, thu quả, phan nhẫm, bạt tử, lãm bạt, phan quỷ tử... Các nghiên cứu dược lý cho thấy, dịch chiết từ các bộ phận của cây ổi đều có khả năng kháng khuẩn, làm săn se niêm mạc và cầm đi lỏng.

Theo dược học cổ truyền, lá ổi vị đắng, tính ấm, có công dụng tiêu thũng, giải độc, chỉ huyết. Quả ổi vị ngọt hơi chua, tính ấm, có công dụng kiện vị, cố tràng. Các bộ phận của cây ổi thường được dùng để chữa những bệnh như tiết tả (đi lỏng), cửu lỵ (lỵ mạn tính), viêm dạ dày ruột cấp và mạn tính, sang thương xuất huyết, tiêu khát (tiểu đường), băng huyết...

Một số bài thuốc cụ thể:

1. Viêm dạ dày - ruột cấp và mạn tính:

- Lá ổi non sấy khô, tán bột, uống mỗi lần 6 g, mỗi ngày 2 lần.

- Lá ổi 1 nắm, gừng tươi 6-9 g, muối ăn một ít, tất cả vò nát, sao chín rồi sắc uống.

- Quả ổi, xích địa lợi và quỷ châm thảo, mỗi thứ từ 9-15 g, sắc uống.

2. Lỵ mạn tính:

- Quả ổi khô 2-3 quả, thái phiến, sắc uống.

- Lá ổi tươi 30-60 g sắc uống.

3. Trẻ em tiêu hóa không tốt:

- Lá ổi 30 g, hồng căn thảo (tây thảo) 30 g, hồng trà 10-12 g, gạo tẻ sao thơm 15-30 g, sắc với 1.000 ml nước, cô lại còn 500 ml, cho thêm một chút đường trắng và muối ăn, uống mỗi ngày. Trẻ 1-6 tháng tuổi chỉ uống mỗi ngày 250 ml.

4. Tiêu chảy:

- Búp ổi hoặc vỏ dộp ổi 20 g, búp vối 12 g, búp hoặc nụ sim 12 g, búp chè 12 g, gừng tươi 12 g, rốn chuối tiêu 20 g, hạt cau già 12 g, sắc đặc uống.

- Búp ổi 12 g, vỏ dộp ổi 8 g, gừng tươi 2 g, tô mộc 8 g, sắc với 200 ml nước, cô còn 100 ml. Trẻ 2-5 tuổi mỗi lần uống 5-10 ml, cách 2 giờ uống 1 lần. Người lớn mỗi lần uống 20-30 ml, mỗi ngày 2-3 lần.

- Với tiêu chảy do lạnh, dùng búp ổi sao 12 g, gừng tươi 8 g nướng cháy vỏ, hai thứ sắc cùng 500 ml nước, cô còn 200 ml, chia uống 2 lần trong ngày. Hoặc: Búp ổi hay lá ổi non 20 g, vỏ quýt khô 10 g, gừng tươi 10 g nướng chín, sắc với 1 bát nước, cô còn nửa bát, uống nóng. Cũng có thể lấy búp ổi 60 g, nụ sim 8 g, riềng 20 g, ba thứ sấy khô, tán bột, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 5 g với nước ấm.

- Với tiêu chảy do nóng (thấp nhiệt), dùng vỏ dộp ổi 20 g sao vàng, lá chè tươi 15 g sao vàng, nụ sim 10 g, trần bì 10 g, củ sắn dây 10 g sao vàng, tất cả tán bột, người lớn mỗi lần uống 10 g, trẻ em uống bằng nửa liều người lớn. Hoặc: Vỏ dộp ổi sao vàng 20 g, vỏ duối sao vàng 20 g, vỏ quýt sao vàng 20 g, bông mã đề sao vàng 20 g, sắc đặc uống nóng. Cũng có thể lấy bột vỏ dộp ổi 8 phần, bột gạch non 2 phần, trộn đều, luyện thành viên, mỗi lần uống 10 g, mỗi ngày 2 lần.

- Với tiêu chảy do công năng tỳ vị hư yếu, dùng lá hoặc búp ổi non 20 g, gừng tươi nướng cháy 10 g, ngải cứu khô 40 g, sắc cùng 3 bát nước, cô còn 1 bát, chia uống vài lần trong ngày.

- Với trẻ em đi lỏng, dùng lá ổi tươi 30 g, rau diếp cá 30 g, xa tiền thảo 30 g, sắc kỹ lấy 60 ml, trẻ dưới 1 tuổi uống mỗi lần 10-15 ml, trẻ 1-2 tuổi uống 15-20 ml, mỗi ngày 3 lần.

5. Băng huyết: Quả ổi khô sao cháy tồn tính, tán bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 9 g pha với nước ấm.

6. Đau răng: Vỏ rễ cây ổi sắc với dấm chua, ngậm nhiều lần trong ngày.

7. Thoát giang (sa trực tràng): Lá ổi tươi lượng vừa đủ, sắc kỹ lấy nước ngâm rửa hậu môn. Có thể kết hợp dùng quả ổi khô sắc uống.

8. Mụn nhọt mới phát: Lá ổi non và lá đào lượng vừa đủ, rửa sạch, giã nát rồi đắp lên vùng tổn thương.

Lưu ý: Không dùng ổi cho những người đang bị táo bón.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Rau Muống

Tác dụng chữa bệnh của rau muống Tác dụng chữa bệnh của rau muống
Rau muống có thể thải trừ cholesterol máu và chống tăng huyết áp. Vì vậy, những người bị chứng huyết áp cao, cholesterol máu cao, cơ thể gầy khô nên ăn nhiều loại rau này.

Theo Đông y, rau muống vị ngọt nhạt, tính mát, có tác dụng giải độc, thông đại tiểu tiện, chữa táo bón, đái rắt. Dân gian dùng rau muống để phòng và chữa một số chứng bệnh thường gặp:

- Làm mất tác dụng của những thuốc đã uống, giải độc: Rau muống rửa sạch giã nát, vắt lấy nước uống.

- Chữa vết thương, vết mổ sâu rộng: Ăn rau muống hằng ngày kích thích sinh da chóng đầy miệng (những trường hợp có cơ địa sẹo lồi không nên dùng trong thời gian chưa liền sẹo).

- Giảm đường máu: Bệnh nhân tiểu đường nên dùng rau muống thường xuyên.

- Chữa dị ứng bội nhiễm ngoài da: Rau muống tươi một nắm rửa sạch, đun sôi kỹ, để vừa ấm, rửa chỗ thương tổn. Hoặc: Rau muống 30 g, râu ngô 15 g, mã thầy (củ năn) 10 củ. Sắc uống hằng ngày đến khi khỏi.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây Hành

Hành ta, hành tây - thuốc quý của mọi nhà Hành ta, hành tây - thuốc quý của mọi nhàĐể rút kim, gai nằm trong vết thương, lấy hành ta 5 phần, muối 1 phần giã nát, đắp vào vết thương rồi dán băng dính, để qua đêm; gai, kim sẽ ra. Còn để đuổi muỗi, nên cắt đôi vài củ hành tây đặt vào giường, muỗi sẽ không dám bén mảng đến.

Các nhà dược học cho biết, hành chứa chất kháng sinh alixin, có khả năng diệt khuẩn rất mạnh. Trong hành tây còn có chất phytonxit là loại kháng sinh mạnh. Theo Đông y, hành ta vị cay, tính bình, không độc, có khả năng giải cảm, hoạt huyết, dùng làm thuốc ra mồ hôi, lợi tiểu, sát trùng, chữa đau răng, sốt cảm, nhức đầu, mặt phù thũng, làm an thai, sáng mắt, lợi ngũ tạng. Hành còn kích thích thần kinh, làm tăng bài tiết dịch tiêu hóa, phòng ngừa ký sinh trùng đường ruột, trị tê thấp. Dùng ngoài chữa mưng mủ. Nước hành nhỏ mũi giúp chữa ngạt mũi cấp tính, mạn tính, viêm niêm mạc mũi.

Hành tây còn dùng chữa ho, trừ đờm, kích thích tiết mồ hôi, lợi tiểu, chống phù thũng, trị bệnh cổ chướng, tiểu đường, giúp ngủ ngon, làm tiêu nhanh các chất bột, trừ giun đũa, trừ ho, chống béo phì, xơ cứng động mạch, kích dục, chống muỗi, dĩn. Dùng ngoài trị áp xe, chín mé, mụn nhọt, chân nứt nẻ, mụn cóc, đau nửa đầu, đau dây thần kinh ngoại biên. Hành sống có tác dụng mạnh hơn.

Các bài thuốc có hành:

- Cảm cúm, nhức đầu: Lấy hành ta 6-8 củ, gừng sống 10 g, xắt mỏng, đổ vào 1 cốc nước sôi, xông miệng mũi mỗi ngày 2-3 lần. Đồng thời, nên sắc nước gừng và hành để uống (1 ly giữa bữa ăn và 1 ly trước khi đi ngủ).

- Động thai: Hành ta tươi 60 g, sắc uống dần đến khi yên thai thì thôi.

- Nhau thai không ra: Dùng 4-5 củ hành ta, nhai nuốt.

- Tăng huyết áp: Hành tây 2-3 củ xắt lát, trộn đường ăn, hoặc nấu nước uống thường xuyên. Uống 4-5 lần, huyết áp sẽ hạ.

- Trị phong thấp: 3 củ hành tây xắt lát, đổ 1 lít nước, đun 10-15 phút. Ngày uống 2 ly vào sáng và tối lúc bụng đói.

- Tiêu chảy: Vỏ lụa hành tây 1 nắm. Đun nước uống trong ngày.

- Tắc ruột do giun đũa: Lá hành tươi 30 g giã nát, trộn với 30 g dầu vừng (dầu mè). Uống ngày 2-3 lần.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây Sắn Dây

Cây sắn dây chữa bệnh
Cây sắn dây chữa bệnhCủ sắn dây (Đông y gọi là cát căn) vị ngọt cay, tính bình, có tác dụng giải độc, thải nhiệt. Nó được dùng chữa sốt, nhiệt ở miệng, nhức đầu do sốt, khát nước, đi lỵ ra máu. Ngày dùng 8-20 g dưới dạng thuốc sắc.

Một số đơn thuốc có củ sắn dây:

- Chữa cảm mạo sốt cao: Củ sắn dây 8 g, ma hoàng 5 g, quế chi 4 g, đại táo 5 g, thược dược 4 g, sinh khương 5 g, cam thảo 4 g, nước 600 ml, sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống trong ngày.

- Bột rắc những nơi mồ hôi ẩm ngứa: Bột sắn dây 5 g, thiên hoa phấn 5 g, hòa thạch 20 g, trộn đều, tán nhỏ, rắc những nơi ẩm ngứa.

- Chữa trẻ sốt: Củ sắn dây 20 g, thêm 200 ml nước sắc còn 100 ml, cho trẻ uống trong ngày.

- Chữa rắn cắn: Khi bị rắn độc cắn, lấy lá sắn dây tươi giã vắt lấy nước uống, bã đắp lên vết rắn cắn.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây Chuối

Chuối sẽ giảm stress? Chuối sẽ giảm stress?Bạn không gầy và ốm đau, song đầu hay bị choáng váng, người luôn mỏi mệt, uể oải và bồn chồn. Đó là những biểu hiện thông thường nhất của chứng bệnh stress trong cuộc sống hiện đại.

Thần kinh căng thẳng cần được chăm sóc và tăng cường bồi bổ. Có rất nhiều loại thực phẩm hỗ trợ cho thần kinh nhưng không gây béo. Vì vậy, việc lựa chọn đúng loại và đúng liều lượng là bí quyết giúp tinh thần luôn sảng khoái.

Thực đơn hoàn thiện

Ăn đủ bữa và đủ chất là yếu tố đầu tiên cần lưu ý. Trong bữa ăn cần có đủ rau, ngũ cốc và hoa quả. Nhóm vitamin B và carbohydrate trong ngũ cốc sẽ giúp cơ thể sản xuất đủ lượng đường glucose, đảm bảo cho cơ thể không bị hạ đường huyết - nguyên nhân số một gây bồn chồn và cáu gắt.

Đối với thần kinh yếu...

Bột mỳ là dưỡng chất an toàn nhất. Người có thần kinh yếu ăn thêm bánh mỳ hoặc các loại bánh quy trong ngày. Nên lưu ý đến những loại rau quả chứa nhiều vitamin và kẽm có tác dụng bồi bổ não như quả bơ, hồng đỏ và xoài, chuối ... Thói quen uống đều đặn chè hà thủ ô cũng giúp tăng cường sức khỏe thần kinh.

Uống nhiều nước

Uống nước lọc vào bất cứ lúc nào có thể. Cố gắng tiếp nhận 2-3 lít nước một ngày. Cần loại bỏ thói quen uống các chất độc hại như cà phê, rượu, chè đen.

Làm nóng cầu chì năng lượng...

Bằng những thực đơn sau:

- Nấu cháo gạo tẻ với sữa 2 lần/tuần.

- Salát hoa quả gồm chuối, dứa.

- Bữa phụ nên ăn lạc rang, hạt điều, hạt dẻ.

Nước sinh tố: 1 quả chuối, 1 thìa nước cốt chanh tươi, 1 thìa lạc rang bóc vỏ, 1 thìa mật ong, 150 mg sữa tươi. Tất cả cho vào xay nhuyễn, uống không hoặc kèm với đá bào. Trong nước sinh tố này, vitamin B6 từ chuối và mật ong sẽ tăng cường năng lượng, sữa giàu canxi và lạc mang lại lecithin. Tất cả đều rất có lợi cho hoạt động của não bộ

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây Mía

Vị thuốc từ cây mía Vị thuốc từ cây míaĐể chữa nứt nẻ chân, lấy ngọn mía và bèo cái mỗi thứ khoảng 100 g, giã nát, thêm vào một bát nước tiểu (trẻ em càng tốt), nấu sôi. Để nước ấm rồi ngâm chỗ nứt nẻ khoảng 30 phút.

Nước mía vị ngọt mát, tính bình, có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, giải độc, tiêu đờm, chống nôn mửa, chữa sốt, tiểu tiện nước đỏ và rất bổ dưỡng. Một số bài thuốc cụ thể:

- Chữa chín mé: Lấy lõi trắng ở ngọn cây mía giã nát, trộn với lòng trắng trứng gà rồi đắp và băng lại.

- Chữa ngộ độc: Thân mía 80 g, thục địa, ý dĩ, cam thảo bắc mỗi thứ 30 g, lá tre, kim ngân, rễ cỏ tranh, rễ ngưu tất mỗi thứ 20 g. Cho vào 1 lít nước, nấu sôi rồi đun lửa nhỏ 15-20 phút, uống nóng hoặc để nguội tùy theo sở thích mỗi người. Cũng có thể chữa ngộ độc bằng cách lấy thân cây mía giã nát cùng với rễ cỏ tranh, ép lấy nước đun sôi trộn với nước dừa mà uống.

- Chữa khí hư: Lá cây mía tím 30 g, lá huyết dụ 30 g, hoa mò đỏ 20 g, rễ mò trắng 80 g. Tất cả các vị trên thái nhỏ, sao vàng rồi sắc lên uống hàng ngày.

- Làm thuốc an thai: Mầm mía 30 g, củ gai 30 g, ích mẫu 20 g, củ gấu 80 g, sa nhân 2 g. Tất cả các vị thái nhỏ, phơi khô sắc với 400 ml nước, còn 100 ml uống trong ngày, chia làm 2 lần.

Lưu ý: Trong bữa ăn có cua thì không nên ăn mật mía, dễ sinh độc.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Rau Cải

Rau họ cải chống ung thư ruột kết Rau họ cải chống ung thư ruột kết

Chỉ cần ăn 2-3 bữa các loại rau cải mỗi tuần, bạn có thể an tâm tránh xa căn bệnh ung thư ruột kết. Nguyên nhân là vì trong quá trình chế biến, những loại rau này sản sinh một chất đặc biệt gọi tắt là AITC, có khả năng tiêu diệt tế bào ung thư.

AITC thực chất là một sản phẩm của quá trình phá vỡ hợp chất sinigrin trong các loại rau họ cải như mù tạc, bắp cải, súp lơ, củ cải Thuỵ Điển, cải xoăn, wassabi... AITC xuất hiện khi cắt, chế biến và tiêu hóa rau. Theo các chuyên gia đến từ Viện nghiên cứu Thực phẩm Anh, ngoài khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư ruột kết, AITC còn có thể ngăn chặn sự xâm lấn của khối u.

Kết quả nghiên cứu được tuyên bố đúng vào thời điểm Quỹ Ung thư Thế giới (WCRF) thông báo kế hoạch triển khai một nghiên cứu quy mô nhất từ trước tới nay về chế độ dinh dưỡng và căn bệnh ung thư. Trong đó, các nhà khoa học trên toàn cầu sẽ được giao nhiệm vụ tìm hiểu hơn 10.000 công trình liên quan, nhằm thiết lập một hướng dẫn tổng hợp, cụ thể và đáng tin cậy về loại thực phẩm nào con người cần ăn để chống ung thư. Nghiên cứu dự kiến sẽ được công bố vào năm 2006.

Cho đến thời điểm này, nội dung nghiên cứu đã được phân bổ về một số viện nghiên cứu và đại học, trong đó các đại học ở Leeds và Bristol (Anh) sẽ chịu trách nhiệm đối chiếu thông tin về các loại ung thư tuyến tuỵ, dạ dày, bàng quang, tuyến tiền liệt và thận. Ở Mỹ, Đại học bang Pennsylvania sẽ tìm hiểu sâu về ung thư miệng và vòm họng, Đại học Johns Hopkins sẽ tập trung nghiên cứu về ung thư phổi và họng trên, Trường Kaiser Permanente sẽ nhận đề tài về ung thư tử cung. Tại Hà Lan sẽ là ung thư ruột kết, trực tràng, gan và túi mật; còn Viện Ung thư Italy sẽ tìm hiểu ung thư vú, buồng trứng và cổ tử cung.

Giáo sư Martin Wiseman, giám đốc dự án và cố vấn khoa học - y tế của WCRF, cho biết: "Bất cứ khi nào xuất hiện một nghiên cứu mới liên quan đến dinh dưỡng và ung thư, chúng sẽ hoặc là đối lập, hoặc là phức tạp hóa các kết quả trước đó. Hậu quả là người dân rất dễ bị rối, nhầm lẫn, thậm chí hoảng loạn. Đó là lý do vì sao cần phải tiến hành một công trình nghiên cứu tổng hợp, nhằm cung cấp những lời khuyên đáng tin cậy nhất dựa trên cơ sở khoa học. Nó sẽ làm sáng tỏ những quan niệm sai lầm và giải toả mọi nghi ngờ về dinh dưỡng và căn bệnh ung thư từ trước tới nay".

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây bồ công anh

Cây bồ công anh làm thuốc Cây bồ công anh làm thuốcLoại cây này còn có tên là rau bồ cóc, diếp dại, mũi mác, rau bao; thường mọc hoang ở nhiều nơi. Theo y học cổ truyền, bồ công anh vị đắng ngọt, tính lạnh, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thũng, chữa các bệnh mụn nhọt, lở loét, viêm dạ dày - tá tràng, viêm gan, viêm họng..

Một số bài thuốc nam thường dùng trong dân gian:

- Mắt đau sưng đỏ: Bồ công anh 40 g, dành dành 12 g. Sắc uống ngày một thang.

- Viêm tuyến vú, tắc tia sữa: Bồ công anh 30-50 g tươi, giã nát vắt lấy nước cốt uống, bã đắp lên vú.

- Mụn nhọt: Bồ công anh 40 g, bèo cái 50 g, sài đất 20 g. Sắc uống ngày một thang.

- Viêm họng: Bồ công anh 40 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo nam 10 g. Sắc uống ngày một thang.

- Viêm loét dạ dày, tá tràng: Bồ công anh 40 g, lá khôi, nghệ vàng 20 g, mai mực 10 g, cam thảo 5 g. Sắc uống ngày một thang.

- Viêm phổi, phế quản: Bồ công anh 40 g, vỏ rễ dâu 20 g, hạt tía tô 10 g, kim ngân hoa 20 g, cam thảo nam 10 g. Sắc uống ngày một thang.

- Viêm gan virus: Bồ công anh 30 g, nhân trần 20 g, chó đẻ răng cưa (kiềm vườn) 20 g, rau má 30 g, cam thảo nam 20g. Sắc uống ngày một thang.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây cỏ ngọt

Cây cỏ ngọt - bạn của bệnh nhân tiểu đường/ Cây cỏ ngọt - bạn của bệnh nhân tiểu đường/Trong thiên nhiên có nhiều loại cây chứa đường năng lượng thấp, với độ ngọt cao gấp hàng trăm lần đường mía. Chúng được dùng làm chất thay thế đường cho những người phải kiêng loại thực phẩm này. Cỏ ngọt (còn gọi là cỏ mật, cỏ đường, cúc ngọt, trạch lan) là một loại cây như thế.

Cỏ ngọt được biết đến từ năm 1908. Hai nhà khoa học Reseback và Dieterich đã chiết xuất được glucozit từ lá cỏ ngọt. Đến năm 1931, Bridel và Lavieille mới xác định được glucozit đó chính là steviozit, chất cơ bản tạo nên độ ngọt ở loại cây này. Steviozit sau khi thủy phân sẽ cho 3 phân tử steviol và isosteviol. Chất steviol ngọt gấp 300 lần đường saccaroza, ít năng lượng, không lên men, không bị phân hủy mà hương vị thơm ngon, có thể dùng để thay thế đường trong chế độ ăn kiêng.

Đặc tính quan trọng của các glucozit này là có thể làm ngọt các loại thức ăn và đồ uống mà không gây độc hại cho người, không đòi hỏi kỹ thuật sản xuất phức tạp, năng suất cao, công nghệ thu hái chế biến đơn giản. Khối lượng thân, lá và chất lượng cỏ ngọt đạt cao nhất ở thời kỳ trước khi nở hoa, nghĩa là nên thu hoạch ở giai đoạn hình thành nụ.

Cỏ ngọt có nguồn gốc tự nhiên ở vùng Amambay và Iquacu thuộc biên giới Brazil và Paraguay. Ngày nay, nhiều nước trên thế giới đã phát triển việc dùng loại cây này trong đời sống. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, người dân Paraguay đã biết sử dụng cỏ ngọt như một loại nước giải khát. Đến những năm 70, cỏ ngọt đã bắt đầu được dùng rộng rãi ở Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và nhiều nước Đông Nam Á. Tại Việt Nam, từ năm 1988, cỏ ngọt đã được nhập và trồng ở nhiều vùng như Hà Giang, Cao Bằng, Hà Tây, Lâm Đồng...

Chất ngọt chiết xuất từ lá cỏ ngọt khô được Công ty RSIT ở Canada gọi là “chất ngọt hoàng gia” bởi giá trị tuyệt vời của nó. Đây cũng là một công ty có bản quyền về chế tạo “chất ngọt hoàng gia” mà không gây ô nhiễm môi trường, không sử dụng hóa chất, sử dụng chất trao đổi ion để phân lập, chiết xuất và tinh chế các thành phần glucozit tự nhiên của cây.

Cỏ ngọt cũng được dùng như một loại trà dành cho những người bị bệnh tiểu đường, béo phì hoặc cao huyết áp. Một thí nghiệm được tiến hành trên 40 bệnh nhân cao huyết áp độ tuổi 50, cho thấy, loại trà này có tác dụng lợi tiểu, người bệnh thấy dễ chịu, ít đau đầu, huyết áp tương đối ổn định.

Trong công nghiệp thực phẩm, cỏ ngọt được dùng để pha chế làm tăng độ ngọt mà không làm tăng năng lượng của thực phẩm. Ngoài ra, loại cây này còn được dùng trong chế biến mỹ phẩm, chẳng hạn sữa làm mượt tóc, kem làm mềm da. Nó vừa có tác dụng nuôi dưỡng tất cả các mô, tái tạo làn da mới vừa chống nhiễm khuẩn, trừ nấm.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Hoa Phù Dung

Hoa Phù dung chữa bệnh phụ nữ

Hoa Phù dung

Phù dung, một loại cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi để làm cảnh, tên khoa học là Hibiscus mutabilis L.. Trong dân gian còn được gọi là mộc liên, địa phù dung, tam biến hoa, thất tinh hoa, sương giáng hoa, túy tửu phù dung, đại diệp phù dung...

Cây Phù dung nhỏ, cao chừng 2 - 5m, cành có lông hình sao ngắn, vỏ thân có nhiều xơ sợi, lá mọc cách, xẻ 3 - 5 thùy, hình bàn tay, rộng 10 - 20cm, mặt trên có lông, mép khía răng cưa. Hoa to và đẹp, mọc đơn độc hoặc tụ nhiều hoa, khi mới nở vào buổi sáng có màu trắng, chiều ngả màu hồng đỏ. Quả hình cầu 5 cạnh, đường kính từ 2 - 5cm, có lông màu vàng nhạt.
Theo Y học cổ truyền, hoa phù dung vị cay, tính bình, có công dụng thanh nhiệt, giải độc, lương huyết chỉ huyết (làm mát huyết và cầm máu), tiêu thũng chỉ thống (làm hết phù thũng và giảm đau), thông kinh hoạt huyết, bài nùng (làm hết mủ).
Một số bài thuốc ứng dụng:
Bài 1: Kinh nguyệt kéo dài không dứt: Hoa phù dung 9 - 30g sắc uống, hoặc hoa Phù dung và Gương sen (Liên phòng) lượng bằng nhau, sấy khô tán bột, uống mỗi ngày 6g với nước cơm.
Bài 2: Kinh nguyệt không đều: Hoa Phù dung hoặc vỏ rễ 9 - 12g, sắc uống.
Bài 3: Thống kinh: Đế hoa phù dung 7 cái, sắc kỹ lấy nước, hòa thêm một chút đường phèn rồi uống.
Bài 4: Khí hư (bạch đới): Hoa phù dung 10 đóa sắc uống.
Bài 5: Viêm âm đạo: Hoa hoặc lá Phù dung 1.000g, sắc kỹ lấy 1.000ml, bỏ bã, để nguội, cho thêm benzoic axit 0,3%, bảo quản bằng dung dịch thuốc tím 1%, dùng dịch chiết hoa phù dung ngâm rửa âm đạo mỗi ngày một lần.
Bài 6: Viêm tuyến vú: Dùng hoa, lá hoặc rễ Phù dung sắc uống hoặc giã nát đắp vào vùng tổn thương.
Bài 7: Trẻ em hay đầy bụng do giun: Hoa Phù dung hái lúc còn màu trắng, phơi khô trong bóng râm rồi thái nhỏ nấu canh với Gan gà cho ăn hằng ngày.
Bài 8: Viêm khớp: Hoa Phù dung 15g, Xích đậu 15g, hai thứ nghiền nhỏ, trộn với mật ong rồi đắp lên khớp đau. Cũng có thể thay thế bằng bột lá Phù dung khô.
Bài 9: Chữa mụn nhọt, chín mé:
Cách 1: Hoa hoặc lá Phù dung sấy khô tán bột, trộn với Vaselin thành cao mềm theo tỷ lệ 1:4 rồi đắp lên tổn thương, hằng ngày hoặc cách ngày thay thuốc một lần.
Cách 2: Hoa Phù dung 30g, Đan bì 15g, sắc uống.
Cách 3: Hoa Phù dung và Dã cúc hoa lượng bằng nhau, sấy khô, tán bột, trộn với mật ong bôi lên tổn thương.
Cách 4: Hoa Phù dung tươi giã nát đắp vào nơi bị bệnh.
Cách 5: Hoa hay lá Phù dung một phần, củ Chuối tiêu hai phần, lá Vòi voi (có thể thay bằng Rau má tươi) một phần, muối ăn một chút, tất cả giã nát rồi đắp lên tổn thương.
Cách 6: Hoa, lá Phù dung giã nát, trộn thêm chút muối rồi bó vào nơi bị bệnh.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Hoa bóng nước

Hoa bóng nước cây cảnh đẹp, vị thuốc tốt

Cây Bóng nước

Hoa bóng nước tên khoa học Impatiens balsamina L. thuộc họ bóng nước BALSAMINACEAE có tên khác là Móc tai, Bông móng tai, là một cây trồng làm cảnh với hoa đẹp nhiều màu sặc sỡ: Trắng, hồng, đỏ, tím và vàng.

Cả cây Hoa bóng nước được dùng trong Y học cổ truyền với tên thuốc là Phượng tiên hoa, thu hái khi chưa có hoa, lá còn xanh chưa bị úa vàng. Dịch chiết từ lá Bóng nước với thành phần hóa học chủ yếu là chất axit p-hydroxybenzoic đã được nghiên cứu dược lý thấy có tác dụng kháng khuẩn rất mạnh. Cả cây Bóng nước dùng tươi, rửa sạch, giã nát với ít muối, đắp chữa sưng tấy, mụn nhọt, chín mé, vết thương.
Dược liệu Bóng nước phơi khô 15g phối hợp với vỏ Ngũ gia bì 10g và rễ Uy linh tiên 10g, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm 2 lần trong ngày chữa phong thấp. Để chữa đau lưng, lấy cả cây Bóng nước 10g, nhân Hạt đào 15g, Nho chua 10 quả, thái nhỏ, phơi khô, sắc uống trong 7 ngày liền.

Hoa bóng nước được thu hái lúc mới nở, dùng tươi hoặc phơi, sấy nhẹ cho khô. Dược liệu có vị ngọt, hơi đắng, tính ấm, không độc, có tác dụng hoạt huyết, giảm đau, tiêu tích, giải độc, chữa phong thấp, đau nửa người, tích máu sau khi đẻ, mụn nhọt với liều dùng hằng ngày là 12 - 20g hoa tươi hoặc 3 - 6g hoa phơi khô, dưới dạng nước sắc. Hoa bóng nước phơi khô, sắc uống chữa bế kinh ở phụ nữ.

Chất lawson và lawson methylether có trong hoa Bóng nước có tác dụng kháng nấm rất mạnh.
Hạt Bóng nước được dùng rất phổ biến với tên thuốc là Cấp tính tử, thu hái từ những quả già vào mùa hạ, phơi khô. Dược liệu có hình tròn dẹt, hình trứng hoặc hơi có cạnh, mặt ngoài màu nâu hoặc xám, có những nốt trắng nhỏ, nhân hạt màu xám nhạt chứa 17 - 18% dầu, không mùi, vị nhạt, hơi đắng, tính ấm, có tác dụng làm tan máu ứ, thông kinh, giải độc.

Theo kinh nghiệm dân gian
Hạt Bóng nước 20g phối hợp với rễ cây Bông cỏ 30g, thái nhỏ, phơi khô, sắc uống làm 2 - 3 lần trong ngày có tác dụng ngừa thai.
Hạt bóng nước tẩm mật, phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với hồ làm viên bằng hạt đỗ xanh, uống mỗi lần 8 viên với rượu có tác dụng chữa ăn hay bị nghẹn, nhất là ở người cao tuổi.
Để chữa hóc xương, lấy hạt hoặc rễ Bóng nước nhai nhỏ, ngậm trong miệng gần chỗ xương bị mắc, hoặc thổi bột hạt vào họng, không được nuốt.

Chú ý: Phụ nữ có thai không được dùng Hoa bóng nước.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Hoa Cúc

Cúc vàng

HOA CÚC

Cúc có khoảng 13.000 loài, là một họ lớn của thực vật học trong đó nhóm Gia cúc có khoảng 100 loại được dùng phổ biến; nhóm Dược cúc dùng làm thuốc với hai vị thường dùng nhất là Bạch cúc (Cúc trắng) và Kim cúc (Cúc vàng).

Cúc có khoảng 13.000 loài, là một họ lớn của thực vật học trong đó nhóm Gia cúc có khoảng 100 loại được dùng phổ biến; nhóm Dược cúc dùng làm thuốc với hai vị thường dùng nhất là Bạch cúc (Cúc trắng) và Kim cúc (Cúc vàng). Tên khoa học Cúc trắng: Chrysanthemum sinense Sabine. Cúc vàng: Chrysanthemum Indicum Lour họ Cúc Compositae; tên vị thuốc là Flos chrysanthem. Thần nông bản thảo xếp Cúc vào nhóm Thượng phẩm thuộc tiên dược vì chúng có tính năng công dụng tốt lành, không gây độc hại cho người.
Cúc nói chung tính vị ngọt, cay, vào 3 kinh phế, can, thận; có tác dụng dưỡng âm, ích can, tán phong thấp, thanh đầu mục, giáng hoả, giải độc. Cúc trắng vị ngọt nhiều hơn đắng, tính hơi hàn, thiên về khí phế. Cúc vàng vị cay đắng nhiều hơn ngọt, tính hơi ôn, thiên về can huyết.
Theo Mậu hy ung: “Cúc hoa là yếu dược (thuốc trọng yếu) để khu phong. Chất đắng hay tiết nhiệt đi vào tâm - tiểu tràng; chất ngọt ích huyết giải độc đi vào tỳ vị; tính bình cay hay tán kết đi vào can đởm và phế đại tràng, do đó Cúc hoa chữa được các chứng phong vào đầu làm choáng váng; xây xẩm; mắt bị đau nhức; chảy nước mắt sống; da thịt tê không biết đau. Đó là thuốc của thần tiên”
Từ - Hồi - Khê: “Phàm những vật có hương thơm đều chữa được các chứng bệnh ở đầu, mắt, ngoài da, nhưng chúng hay gây táo nhiệt, duy chỉ có Cam cúc (Cúc trắng) không gây táo nên dùng chữa các chứng phong ở đầu mắt rất hay”.
Lý Sĩ Tài nói: “Hoa cúc hình tròn, nâng cao phẩm giá ngụ ý đạo đức của trời cao trong sáng, hoa Cúc vàng mang sắc thái của đất. Hoa cúc trồng sớm, nở muộn là đức của đấng trượng phu; nó nở vào mùa sương tuyết hiểm nguy tượng trưng cho đức kiên trinh. Vị của nó hoà mà nhẹ phảng phất món ăn tiên giới đó chính là loại thuốc quý”
Sách Trung Quốc ghi chuyện: Nhà thơ Triệu Sư Tú đời Tống dạo chơi trên cánh đồng hoa, ông nảy bao ý thơ trong đầu nhưng không có gì để ghi. Về đến nhà, ông không sao nhớ lại nên vô cùng trăn trở, tình trạng ấy kéo dài làm ông lâm bệnh. Các bạn thơ của ông mời một đạo sĩ đến chữa bệnh cho ông; ông được chẩn đoán can dương vượng hoả động thần minh. Các triệu chứng kết lại thành chứng phong huyền, mất ngủ, đầu căng, mắt đỏ, tai ù hay cáu giận. Cách điều trị chỉ là hoa Cúc phơi khô, tán nhuyễn, chưng trong nồi cơm để uống. Đơn giản có vậy mà bệnh khỏi. Về sau, phương thuốc này được phát huy, chữa khỏi nhiều bệnh.
Theo Tây y: Cúc hoa chứa tinh dầu thơm, các vitamin A, B, một số amin và nhiều nguyên tố vi lượng, trong đó đáng chú ý có selen - một nguyên tố thần diệu khử gốc tự do điển hình chống oxy hoá, chống lão hoá và crom là chất phân giải và bài tiết cholesterol phòng chống các bệnh tim mạch.
Một số bài thuốc tiêu biểu
* Nhóm thuốc trường xuân bất lão
- Đan trưởng thọ: Mầm cúc tháng 3 âm lịch, lá tháng 6, hoa tháng 9, gốc rễ tháng 12, lượng bằng nhau. Phơi âm can, tán bột hoàn bằng hạt Đậu xanh. Uống bột thì mỗi lần 5g với nước ấm, uống hoàn 10 - 15g, ngày 2 lần lúc đói.
- Cúc hoa tiên tửu: Dùng hoa Cúc tháng 8, 9, nấu lấy nước cốt để thổi cơm nếp làm rượu. Cất rượu vào bình kín dùng dần; muốn tốt hơn thì trong nước thổi cơm nên gia thêm nước cốt củ Sinh địa, Đương quy, Câu kỳ tử, và một số vị thuốc bổ khác thì công hiệu càng cao. Chữa được những chứng đầu phong quay quắt, đau nhức, chóng mặt tối sầm; nó còn có thể làm cho đầu óc sáng suốt, mắt tinh, tai tỏ, chữa các chứng đờm tê bại và các chứng bệnh của tuổi già: thân thể gày còm ốm yếu, chảy nước mắt sống, nhiều dử, mắt kéo màng rộng; nó còn làm cho sức lực dồi dào, ăn ngon ngủ dễ, người khỏe mạnh ít bị mắc bệnh, sống lâu. Trong Cổ phương Kỷ Cúc Địa hoàng hoàn đã được sản xuất đại trà.
* Thuốc thanh đầu mục (nhẹ đầu, sáng mắt)
Chữa chứng đau đầu kèm mắt đỏ do thời tiết nắng gắt gây cảm mạo do hoả bốc, đó là sở trường của hoa Cúc.
- Hoa cúc 30g, Kim ngân hoa 20g, lá Dâu nuôi tằm 15g. Trộn đều, khi dùng chia 6 phần, dùng 6 lần trong ngày, hãm nước thật sôi, uống nóng, cách nhau 2 - 3 giờ.
- Cúc hoa tươi mới hái về, sắc nước cô lại thành cao với Mật ong, mỗi lần 15 g, hoà nước ấm để uống.
- Gối Hoa cúc: Hoa cúc 2 kg phơi khô, cho vào ruột gối thay bông gối đầu để nhẹ đầu, sáng mắt.
Phòng chữa các bệnh mắt
- Ban đậu chạy vào mắt sinh màng mộng: Bạch cúc hoa, Cốc tinh thảo, vỏ Đậu xanh, lượng bằng nhau, tán bột. Mỗi lần dùng 4g với một quả Thị, một chén cơm nếp nấu cho đến khi cơm chín thì ăn hết. Ngày ăn 3 quả, bệnh nhẹ thì ăn 5 đến 7 ngày, bệnh nặng thì nửa tháng.
- Mắt kém, chống mỏi mắt: Hoa cúc 50g, hạt quả Đậu chín 30g, chia 3 - 5 lần, hãm với nước sôi uống trong ngày.
- Mắt đỏ nhức kéo màng chảy nước mắt sống: Hoa cúc tươi 50g, cho vào cối sạch giã nhuyễn với nước đun sôi để nguội, vắt lấy nước uống làm hai lần
* Bệnh tim mạch
- Chữa cao huyết áp: Hoa cúc 10g, hoa Hòe 6g, Thảo quyết minh 10g. Trộn đều cả ba rồi chia làm 3 lần uống trong ngày bằng cách hãm nước thật sôi.
- Bệnh mạch vành: Sắc 300g hoa Cúc, lấy nước cô thành cao. Mỗi lần uống khoảng 20 - 25ml ngày 2 lần trong 2 tháng.
- Mỡ máu cao, béo phì: Hoa cúc, Sơn tra phiến, Thảo quyết minh, mỗi vị 15g, trộn đều. Mỗi lần dùng 15g, ngày 3 lần. Sắc hoặc hãm nước thật sôi trong 10 - 15 phút để uống.
* Trong dược thiện
: Hoa, búp lá non, thân non, dùng làm thức ăn sống hoặc nấu chín thành canh cháo để phòng chữa các bệnh trên. Dược phẩm Cúc dạng rượu có thể hoà vào nước cơm cháo cho người không uống được rượu.
* Làm thuốc tắm rửa
Dùng hoa cúc tươi hoặc khô hoặc lá, thân, rễ, ngâm vào nước sôi, hoà vào nước tắm để phòng chữa các bệnh ngứa mẩn ngoài da. Người Nhật trọng dụng Cúc để ngâm mình, đắp lên mặt 20- 30 phút trong bồn tắm, họ tin với cách tắm này sẽ trường thọ.
* Thuốc đeo lấy hương
Trong một số bệnh như huyết áp cao, đau đầu, mất ngủ, tim loạn nhịp, viêm tuyến sữa, dùng một số hương liệu cho vào túi vải đeo vào người. Ví dụ chữa huyết áp cao: Dùng hoa Cúc, Hạ khô thảo, Thạch xương bồ, mỗi thứ một ít, tán nhỏ cho vào túi và đeo vào cổ, ba ngày thay một lần.
u Cấm kỵ: Theo Bản thảo kinh tập chú: Không dùng cùng với vỏ lụa trắng của rễ cây Dâu, rễ Câu kỷ, Truật. Theo Bản thảo hối ngôn: Người bị tỳ vị hư hàn, đau dạ dày, biếng ăn, đi lỏng, không dùng, nếu buộc phải dùng thì dùng ít.
Trà Sâm cúc của Công ty Đông dược Bảo Long được phát triển từ cổ phương (dùng Kim cúc làm chủ dược cùng với Thảo quyết minh, Mạch môn, Hoàng kỳ và một số vị thuốc bổ khác). Học viện Quân y đã dùng trà Sâm cúc cho bộ đội và có những nhận xét đáng khích lệ.
* Điều đặc biệt chú ý:
Do hấp thụ được “khí thu” “sương thu”, “tiết thu” Cúc mới có tính dược đặc trưng, vì vậy để làm thuốc, theo dược lý Đông y thì không thể thay thế các vị Thu cúc bằng các loại dược Cúc khác.
“Hoa thu giữ sắc xuân bền
Cho mãi mắt biếc in nền trời thu”

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây Hoa Sen

Hạt sen & ngó sen: dinh dưỡng, chữa bệnh

Sen

"Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng Nhụy vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn." (Ca dao) Sen là một loài hoa đẹp cả hương lẫn sắc. Từ bao đời nay, những đầm Sen sắc trắng , đỏ hồng chen lẫn những chiếc lá tròn to, xanh thẫm đã đi vào trong thơ ca, hội họa và trong tâm trí mỗi con người Việt Nam. Hè đến, Sen đua mình khoe sắc, toả hương. Thu sang, Sen ẩn mình, để lại trên mặt đầm những gương Sen xanh đậm chứa đầy hạt và dưới gốc cây trong lớp bùn dưới đáy nước là những ngó Sen trắng đục. Hạt Sen và ngó Sen không chỉ là nguồn thực phẩm trong cuộc sống hàng ngày của con người mà chúng còn là những vị thuốc quý trong Đông y.

Hạt Sen - Thức ăn ngon, vị thuốc quý
Trong 100g hạt Sen tươi có 9,5g protit, 30g gluit, cung cấp cho cơ thể được 162calo. Ngoài ra còn có các vitamin: Caroten, Vitamin B1 (0,17mg%), Vitamin B2 (0,09mg%), Vitamin PP (1,7mg%), Vitamin C (17mg%)…
Trong 100g hạt Sen khô có 20g protit, 2,4g lipit, 58g gluxit, cung cấp cho cơ thể 342 calo, và một số muối khoáng quan trọng (canxi 89mg%, photpho 285mg%, sắt 6,4mg%…).
Hạt Sen là nguồn thực phẩm dùng để chế biến nhiều món ăn ngon có giá trị dinh dưỡng cao như: Chè Sen, Mứt Sen, Chè hạt Sen Long nhãn, Thịt gà hầm hạt Sen, Móng giò hầm hạt Sen…
Ngoài giá trị dinh dưỡng, hạt Sen còn là một vị thuốc quý với tên “Liên tử”, được Đông y dùng chủ yếu làm thuốc bồi dưỡng cơ thể và chữa các bệnh mất ngủ, thần kinh suy nhược. Liều dùng mỗi ngày 20 - 30g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Trong thực tế, hạt Sen còn được dùng phối hợp với nhiều vị thuốc trong các đơn thuốc bồi dưỡng cơ thể thường dùng. Ngoài ra, trong nhiều sách thuốc cổ còn nói đến tác dụng chữa lỵ của hạt Sen (hạt Sen để nguyên cả vỏ sắc uống ngày 10 - 12g). Hải Thượng Lãn Ông cũng nói đến tác dụng này trong sách Lĩnh Nam bản thảo.
Giữa hạt Sen có một mầm xanh. Khi ăn hạt Sen, ta phải lấy hết mầm xanh này ra vì mầm có vị đắng, ăn phải sẽ mất ngon. Nhưng chính mầm xanh này lại là một vị thuốc hay với tên gọi “Liên tâm”, có tác dụng thanh nhiệt, an thần, hạ huyết áp. Dân gian dùng Liên tâm để chữa mất ngủ, liều dùng mỗi ngày 5 - 10g dưới dạng thuốc sắc hoặc pha lấy nước uống như pha trà.
Các món ăn chế biến từ hạt Sen có nhiều nhưng phổ biến nhất vẫn là chè Sen - một món ăn ngon đồng thời là một bài thuốc bổ có tác dụng bồi dưỡng cơ thể và an thần, giúp giấc ngủ ngon hơn.
Ngó sen
Cũng là một thức ăn đồng thời là vị thuốc thông dụng mang tên “Liên ngẫu”. Trong ngó Sen có đường glucoza, canxi, photpho, sắt, vitamin C, arginin, tyrosin… Nhân dân ta vẫn lấy ngó Sen ăn sống hoặc luộc ăn để ngủ ngon giấc. Các nhà Y học và Dinh dưỡng học thời xưa đều cho rằng ngó Sen có tác dụng bổ trung khai vị, thích hợp với những người cơ thể suy nhược như vừa ốm khỏi hoặc mới sinh đẻ và đã chế biến ra nhiều món ăn, chủ yếu là cháo ngó Sen để bồi dưỡng sức khoẻ. Có nhiều cách nấu cháo ngó Sen, đơn giản nhất là lấy ngó Sen già còn tươi, rửa sạch, thái nhỏ, nấu với gạo tẻ thành cháo, cho đường kính trắng vào ăn.
Tác dụng chữa bệnh của ngó Sen đã được nhiều sách thuốc cổ nói đến. Theo Hải Thượng Lãn Ông: ngó Sen vị ngọt, mát, tính hàn, kiêm tả bổ, có tác dụng cầm huyết, thanh nhiệt, trừ phiền, giã rượu. Ngó sen để sống: tính hàn, vị ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, tán ứ, làm hết nôn, giải khát, giã rượu, chữa các chứng xuất huyết do nhiệt. Ngó Sen chín: tính ôn, vị ngọt có tác dụng kiện tỳ, khai vị, chỉ khái, dưỡng huyết, sinh cơ, chữa vết thương lở loét lâu ngày không kín miệng… Những người yếu tỳ vị, người cao tuổi ăn ngó Sen chín rất tốt.
Ngó Sen còn được dùng để chữa một số bệnh sau:
- Chữa xuất huyết: Lấy 10 ngó Sen, giã nát lấy nước, thêm ít đường đỏ, đun lên uống ngày hai lần sáng và tối. Bài thuốc này dùng chữa các chứng xuất huyết thông thường như chảy máu cam, tiểu tiện ra máu, đại tiện ra máu… có tác dụng tốt, thường chỉ dùng mươi hôm bệnh sẽ hết.
Trường hợp xuất huyết đường tiêu hoá có thể lấy nước ngó Sen và nước ép Củ cải, mỗi thứ 20ml, trộn đều uống ngày hai lần, liên tục trong nhiều ngày.
Cũng có thể chế thành Cao lỏng ngó Sen với đường và Mật ong uống dần. Cách làm như sau: Lấy 1500g ngó Sen tươi, thái thành sợi nhỏ, cho vào túi vải xô sạch vắt kiệt lấy nước. Cho nước ngó Sen vào nồi, hoà thêm 200g đường đỏ, đun to lửa cho sôi rồi chuyển sang đun nhỏ lửa thành cao, cho thêm ít Mật ong, bắc ra để nguội, đổ vào chai hoặc lọ dùng dần. Uống mỗi lần một thìa canh (15ml) với nước đun sôi để ấm, ngày ba lần theo bữa ăn.
- Chữa nôn: Lấy 30g ngó Sen sống, 3g Gừng sống, giã nát cả hai thứ vắt lấy nước, chia làm hai lần uống trong ngày

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Cây Dâu

12 bài thuốc từ cây dâu


Việc vội vàng động phòng khi kinh nguyệt chưa dứt dễ sinh chứng toàn thân đau nhức như dùi đâm...

Việc vội vàng động phòng khi kinh nguyệt chưa dứt dễ sinh chứng toàn thân đau nhức như dùi đâm. Nên dùng lá dâu già và lược gãy, nệm rách, tóc rối lượng bằng nhau, đem đốt tồn tính, tán nhỏ, mỗi lần uống 3 đồng cân (khoảng 12 g) với nước nóng thì khỏi.
Bổ huyết, dưỡng huyết
Phù tang chí bảo là một bài thuốc hay đã được đề cập đến trong nhiều y thư cổ. Uống ba tháng thì thân thể mọc đầy mụn do sức thuốc đẩy ra; sau đó khắp mình sẽ tươi sáng, da dẻ mịn màng. Nếu uống liên tục nửa năm, khí lực trở nên mạnh mẽ, bệnh tật dần dần tiêu tan. Trường kỳ uống mãi thì gân cốt rắn chắc, khí huyết dồi dào, rõ tai, sáng mắt, tinh thần khoan khoái, tăng thêm tuổi thọ.
Chọn lá dâu non, hái lúc mặt trời mọc, rửa sạch bụi phấn, phơi nắng cho khô. Vừng đen phân nửa, xát tróc vỏ, đem đồ chín “cửu chưng cửu sái” (có nghĩa là chín lần đồ, chín lần phơi), cùng lá dâu tán bột, có thể đem xay nhỏ, cho luyện mật làm thành viên hoàn.
Cũng hai vị thuốc này, Tuệ Tĩnh còn dùng nấu với nước vo gạo để gội đầu, chỉ 7 lần mà tóc dài được vài “thước”! Nếu đúng như vậy thì bài thuốc này có tác dụng kích thích mọc tóc.
Chữa thong manh, đau mắt
Tuệ Tĩnh cũng giới thiệu dùng chữa chứng thong manh bằng lá dâu tươi đem về giã nát, phơi khô, đốt thành than, nấu lấy nước mà rửa mắt. Xưa có người thong manh đến 20 năm mà đã chữa khỏi bằng bài thuốc này.
Để chữa đau mắt gió hay chảy nước mắt: Lá dâu hái vào tháng chạp, hãm lấy nước mà rửa hàng ngày.
Chữa hen suyễn lâu ngày
Lá dâu già, lá thầu dầu già, trấu sao mật, các vị tán nhỏ, thắng mật làm viên bằng hạt ngô đồng, mỗi lần uống một viên với nước sôi. Bài thuốc này được Tuệ Tĩnh cho là rất hay.
Chữa huyết áp cao
Lá dâu bánh tẻ một nắm nhỏ, cá diếc sống một con. Đem cá diếc bỏ vào châu pha nước muối cho nhả hết nhớt, không mổ, để nguyên con đem luộc, gỡ lấy thịt nấu canh với lá dâu mà ăn.
Hoặc: Vỏ rễ dâu 15,5 g, sinh địa 9 g, hoài sơn (củ mài) 15,5 g, phục linh 6 g, mẫu đơn bì 9 g, tri mẫu 15,5 g, sa sâm bắc 15,5 g, táo ta 10 g, mai rùa 10 g, thạch xương bồ 6 g, huyền sâm 15,5 g, đương quy 6 g, hà thủ ô đỏ 10 g, hoàng cầm 6 g. Sắc uống ngày một thang. Uống liên tục 2-3 tháng.
Hoặc: Trai sông 50-100 g, lá dâu tươi 20 g thái nhỏ, nấm hương 20 g, hành củ khô 2-3 củ. Nấu cháo ăn hàng ngày, có tác dụng hạ huyết áp tốt. Bài thuốc này thích hợp với người già bị tăng huyết áp và u xơ tiền liệt tuyến có các dấu hiệu tiểu không thông, tiểu đêm, tiểu nhiều lần… Đặc biệt là người tăng huyết áp bị chứng “trên bảo dưới chẳng chịu nghe” thì cũng nên dùng.
Tẩy sán
Lấy dao tre cạo lấy vỏ trắng ở cành dâu 3 nắm, nước 3 bát sắc lấy 1 bát. Tối hôm trước phải nhịn ăn, sáng mai bụng đói thì uống, sán sẽ xuống hết. Uống 2-3 lần.
Chữa tiểu buốt, nước tiểu đục
Tổ bọ ngựa trên cây dâu, mỗi lần chỉ cần một cái nướng khô, tán nhỏ, uống với rượu lúc đói, nặng thì uống 2-3 lần là khỏi. Chuyên trị chứng “cao lâm” tiểu buốt. Ngài tằm bỏ đầu, chân, cánh, sấy khô, tán nhỏ, giã với cơm vo thành viên bằng hạt ngô đồng, uống với nước muối lúc đói, chữa được nước tiểu đục, trắng.
Chữa viêm họng
Mộc nhĩ cây dâu lấy vào ngày 5 tháng 5 âm lịch, thứ trắng như vẩy cá, giã nhỏ, lấy lụa bọc lại thành viên, tẩm mật ngậm, có tác dụng chữa bệnh viêm họng.
Chữa viêm tuyến vú
Đọt dâu non một nắm, giã nhỏ đắp vào chỗ vú sưng, lấy giấy dấp nước đắp ngoài, khi khô lại thay, hết viêm thì thôi.
Chữa thiếu máu, mất ngủ
Quả dâu chín ngâm với đường (hoặc mật ong), mỗi ngày pha nước uống. Uống liên tục trong nhiều ngày càng tốt. Nếu mất ngủ, nên uống vào buổi tối trước khi đi ngủ.

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét

Chè đắng

Chè đắng

Cây chè đăng Cao Bằng

Chúng ta đã sử dụng nhiều loại lá và búp của nhiều loài cây nấu nước uống thay chè nên cũng gọi là chè như: Chè vối (nụ hoa cây Vối), Chè vằng (Dây lá vằng), Chè hàng rào (cành lá Chè mạn hoả) và có nhiều loại cây khác như Lành ngạnh, Mâm xôi, Đơn kim (hay Đơn buốt), Chè dây, Súm. Cây Sum Eurya nitida Korth có cành lá dùng làm chè uống gọi Chè cẩu, cũng có vị đắng nên gọi là Chè đắng. Nhiều loại cây khác có lá, búp lá hay một bộ phận khác của cây được chế biến thành trà để pha uống như trà Actiso, trà Khổ qua....

Trong những năm gần đây, có một loại Chè đắng được nhiều người sử dụng dưới dạng nấu nước lá khô uống hoặc dùng những tôm 2-3 lá non sao cho cuốn lại thành sợi hoặc tán thành bột gói vào trà túi lọc. Đó là loại Chè đắng ở Cao Bằng mà bà con Tầy - Nùng gọi là Ché khôm.
Năm 1998, tác giả Lê Đình Khả có viết: Chè đắng trước đây phân bố ở huyện Hạ Lang và huyện Trạch An, nay còn một số cây. Đến năm 1997, ở huyện Hạ Lang đã phải mua giống của Trung Quốc về trồng với giá khoảng 10.000đ/cây con. Sau đó, cây được nhân giống bằng hom lấy ở cây ba năm rưỡi tuổi và sau hai tháng rưỡi, hom dâm đã ra rễ dài 2-3cm. Tác giả Lê Đình Khả cho biết tên khoa học của cây Chè đắng hay Khổ đinh trà là Ilex latifolia Thunb.
Năm 1999, trong bài “Tên khoa học của cây Chè đắng ở Việt Nam”, các tác giả Nguyễn Tiến Bân và Nguyễn Khắc Khôi ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã cho biết: Qua việc đi công tác tại Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), có dịp xem nhiều mẫu vật và tra cứu các tài liệu mới xuất bản của Trung Quốc thì có nhiều vật được xếp vào cùng một loài Ilex kudingcha C.J Tseng (1981). Vào năm 1998, các tác giả Y.X.Fesg, S.K Chen, R.F.Zhao và C.F Liang nhận thấy các mẫu đó không đồng nhất và đã phân thành 4 loài khác nhau như: I.pentagona, I.kaushue, I.latifolia và I.dunniana. Trong Thực vật chí Vân Nam (Flora Yunnanica), Y.R.Li (1996: 233) đã nêu ra những đặc điểm định loại sau:
1. I. kaushue: Cành và cuống hoa có lông tơ thưa, phiến lá dài 13-16cm, rộng 5-6cm, gân bên rõ ở cả hai mặt. Cụm hoa mọc tụm là dạng chùm giả với trục cụm hoa dài gần 1cm; đài của hoa đực hình đĩa; nhị ngắn hơn cánh hoa.
2. I.latifolia: Cành và cuống hoa hoàn toàn không có lông, phiến lá dài 8 - 17cm, rộng 4,5 -7,5cm, gân bên chỉ rõ ở mặt dưới, không rõ ở mặt trên, cụm hoa dạng tán giả, gần như không có cuống; đài của hoa đực hình đấu, nhị dài bằng cánh hoa.
Đến nay, tác giả Nguyễn Tiến Bân đã khẳng định Chè đắng, Ché khôm hay Khổ đinh trà ở Việt Nam cần mang tên khoa học đúng đắn là Ilex kaushue S.Y.Hu. Còn tên I.kudingcha C.J.Tseng là tên đồng nghĩa và tên Ilex latifolia hiểu theo Lê Đình Khả cũng vậy. Như vậy, nghĩa là ở Trung Quốc có cả Ilex kaushue S.Y.Hu và Ilex latifolia Thunb. ex Merr. Còn loại Chè đắng của nước ta là Ilex kaushue S.Y.Hu.
Chè đắng phân bố ở Lào Cai (núi Hàm Rồng, thị xã Sa Pa ), Cao Bằng (Nguyên Bình: Mai Long; Hạ Lang: An Lạc, Đồng Loan, Đức Quang; Thái Đức: Quảng Hoà, Mỹ Hưng, Tiên Thành; Thạch An: Đức Xuân, Nà Tục, Tục Ngã, Pắc Lùng) Hào Bình (Yên Thuỷ, Phố Sấu), Ninh Bình (Cúc Phương, Đồng Cơn). Còn ở Trung Quốc (Hồ Bắc, Hồ Nam, Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Nam tới đảo Hải Nam ).
Trước đây, trong bài viết “Các cây thuốc thuộc chi Ilex L, họ Nhựa ruồi hay Bùi – Aquifoliaceae”, tôi có nêu tên cây Chè đắng như các tác giả Nguyễn Tiến Bân và Nguyễn Khắc Khôi đã nêu năm 1999. Theo tác giả Lê Đình Khả, cũng có thể là ta có nhập trồng loài Ilex latifolia Thunb.ex.Merr. Tôi chưa được xem mẫu vật của loài sau nên chưa thể khẳng định. Trong khi chờ đợi thì việc viết theo tên đã được nhà thực vật học Nguyễn Tiến Bân định loại và công bố là chính xác.
Như vậy, rõ ràng là không thể tìm thấy tên đúng của cây Chè đắng trước năm 1999 khi nó chưa được công bố chính thức. Tuy nhiên, việc thu thập của loài này đã được tiến hành ở nhiều địa phương từ những năm 1970 - 1971 cho đến 1996 - 1997 nên trong các sách về Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ), Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi) cũng chưa thể nêu được khi chưa có căn cứ khoa học chính xác.
Những công bố gần đây có nêu đến các tên như Ilex kudingcha, I. latifolia là do nhiều sách của Trung Quốc khi viết về Khổ đinh trà đã giới thiệu cùng các cây khác như I. cornuta Lindl. và một số loài Nữ trinh như Ligustrum nepalense Rehd., L. japonicum Thunb. Var. pubescens Koidz; cũng dùng như Khổ đinh trà và lá có vị đắng nấu uống như chè.
Về tên Khổ đinh trà, có nhiều tác giả cho biết là cây được gây trồng ở thôn Khổ Đinh, xã Long Môn, huyện Đa Tân, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Người ta chế thành dạng trà vo viên lớn (Khổ đinh trà ở Quảng Tây) hay vo viên nhỏ (Khổ đinh vương ở Hải Nam ).
Ta gọi là Chè đắng, có khi nói rõ hơn là Chè đắng Cao Bằng vì xuất xứ việc sử dụng là từ Cao Bằng và hiện nay ở Cao Bằng chè này mọc tự nhiên ở nhiều nơi.
Về công dụng của Khổ đinh trà, các sách khác nhau đã nêu:
- Sách Thực dụng Trung thảo dược nguyên sắc đồ phổ nêu tên Ilex kudingcha C.J.Tseng với tính vị đắng, ngọt, mát, có tác dụng tán phong nhiệt, thanh đầu mục, trừ phiền khát. Dùng trị đau đầu, đau răng, mắt đỏ, tai điếc, tai giữa chảy mủ, nhiệt bệnh phiền khát, lỵ, đau họng, bỏng lửa. Liều dùng 3 - 10g, dùng ngoài không kể liều lượng. Thể hư dùng phải cẩn thận.
- Sách Trung thảo dược thái sắc đồ phổ ghi tên Ilex latifolia Thunb với tính đại hàn, vị đắng, ngọt, có tác dụng tán phong nhiệt, thanh đầu mục, trừ phiền khát. Dùng trị đau đầu, đau răng, mắt đỏ, nhiệt bệnh phiền khát, lỵ.
- Sách Vân Nam trung dược tư nguyên danh lục ghi Ilex latifolia Thunb với bộ phận dùng là lá, có tính vị đắng, mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tân sinh, chỉ khát. Dùng trị bệnh sởi, đau bụng, bệnh hậu phiền khát, bệnh sốt rét.
- Sách Trung dược đại tự điển ghi 2 loài Ilex cornuta Lindl và I.latifolia Thunb có vị đắng, ngọt, có tác dụng tán phong nhiệt, thanh đầu mục, trừ phiền khát. Dùng trị đau đầu, đau răng, mắt đỏ, tai ù, nhiệt bệnh phiền khát và bệnh lỵ. Sách này còn dẫn ra nhiều nguồn tư liệu khác nhau như sách Bản thảo tái tân có nêu loại trừ chất béo; sách Trung Quốc khoa học đại từ điển nêu là hoạt huyết mạch, lương tử cung; sách Tứ Xuyên trung dược chí nêu là trị được ăn uống không tiêu; sách Cương mục thập di nêu là hoạt huyết, tuyệt dựng....
Như vậy, khi đúc kết, người ta chỉ nêu lên những cái phổ biến nhất, còn những hiệu dụng khác chưa thể nêu hết. Ví dụ: vấn đề triệt sản chẳng hạn, chưa có ai dùng nhiều năm để kiểm chứng. Cần có thời gian sử dụng lâu dài để có thể hiểu hết giá trị của loài chè này.
Tác giả Nguyễn Tiến Bân viết trong Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2003): “Lá dùng uống thay chè, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trừ khát thanh tân, dùng cho bệnh sốt khát nước, đau đầu, đau răng, đau mắt, chữa lỵ. Theo tài liệu Trung Quốc đây là loại chè nổi tiếng ở Quảng Tây. Loại chè thuốc được dùng để biếu tặng các quan chức cao cấp thời phong kiến. Uống chè thường xuyên có tác dụng làm trí óc minh mẫn, lợi tiểu, giúp tiêu hoá, giải khát, giải độc, giữ trữ lượng cơ thể, kéo dài tuổi thọ”
Tác giả Lã Đình Mỡi viết về Chè đắng trong Tài nguyên thực vật Đông Nam á (3-2003): “Theo kết quả nghiên cứu sơ bộ, trong lá Chè đắng có 5 nhóm chất là saponin, triterpen, flavonoit, axit hữu cơ, polysaccharit và carotenoit, trong đó các nhóm saponin và flavonoit có hàm lượng đáng kể. Mặt khác các thử nghiệm đều không tìm thấy alcaloit và glucosit”.
Cũng cần chú ý là cây Chè đắng Nam Mỹ - Ilex paraguariensis A.St. Hil (cùng chi với cây Chè đắng nước ta) đã được sử dụng lâu đời ở Nam Mỹ. Từ sau 1670, khi những người truyền giáo Tây Ban Nha đưa cây này vào trồng thì nó trở thành một cây có giá trị kinh tế cao hơn hẳn so với cây chè, được sử dụng quen thuộc ở nhiều nước Nam Mỹ, Bắc Mỹ và Châu Âu. Các thông tin về cây Chè đắng Nam Mỹ là những tài liệu tham khảo có giá trị khi sử dụng cây Chè đắng ở nước ta.
Các tác giả Nguyễn Tiến Bân và Nguyễn Khắc Khôi từ tháng 3 năm 1999 đã viết: Chè đắng - một loại thân gỗ bản địa của vùng núi đá vôi là một cây kinh tế có triển vọng cho các vùng cao núi đá có đồng bào dân tộc ít người sinh sống. Nó rất cần được nhân giống và đưa vào trồng ở các tỉnh miền núi, phục vụ chương trình trồng 5 triệu hecta rừng của nhà nước. Tuy mới trồng thử ở một vùng - vài điểm ở Cao Bằng nhưng đồng bào địa phương đã nhận xét: “Chè đắng là loại cây trồng rừng có giá trị kinh tế cao”

Posted in Nhãn: | 0 nhận xét