Chè đắng
Posted On Thứ Hai, 12 tháng 11, 2007 at vào lúc 22:23 by GamerchinaChè đắng
| |
| Cây chè đăng Cao Bằng |
Chúng ta đã sử dụng nhiều loại lá và búp của nhiều loài cây nấu nước uống thay chè nên cũng gọi là chè như: Chè vối (nụ hoa cây Vối), Chè vằng (Dây lá vằng), Chè hàng rào (cành lá Chè mạn hoả) và có nhiều loại cây khác như Lành ngạnh, Mâm xôi, Đơn kim (hay Đơn buốt), Chè dây, Súm. Cây Sum Eurya nitida Korth có cành lá dùng làm chè uống gọi Chè cẩu, cũng có vị đắng nên gọi là Chè đắng. Nhiều loại cây khác có lá, búp lá hay một bộ phận khác của cây được chế biến thành trà để pha uống như trà Actiso, trà Khổ qua....
Trong những năm gần đây, có một loại Chè đắng được nhiều người sử dụng dưới dạng nấu nước lá khô uống hoặc dùng những tôm 2-3 lá non sao cho cuốn lại thành sợi hoặc tán thành bột gói vào trà túi lọc. Đó là loại Chè đắng ở Cao Bằng mà bà con Tầy - Nùng gọi là Ché khôm.
Năm 1998, tác giả Lê Đình Khả có viết: Chè đắng trước đây phân bố ở huyện Hạ Lang và huyện Trạch An, nay còn một số cây. Đến năm 1997, ở huyện Hạ Lang đã phải mua giống của Trung Quốc về trồng với giá khoảng 10.000đ/cây con. Sau đó, cây được nhân giống bằng hom lấy ở cây ba năm rưỡi tuổi và sau hai tháng rưỡi, hom dâm đã ra rễ dài 2-3cm. Tác giả Lê Đình Khả cho biết tên khoa học của cây Chè đắng hay Khổ đinh trà là Ilex latifolia Thunb.
Năm 1999, trong bài “Tên khoa học của cây Chè đắng ở Việt Nam”, các tác giả Nguyễn Tiến Bân và Nguyễn Khắc Khôi ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật đã cho biết: Qua việc đi công tác tại Côn Minh (Vân Nam, Trung Quốc), có dịp xem nhiều mẫu vật và tra cứu các tài liệu mới xuất bản của Trung Quốc thì có nhiều vật được xếp vào cùng một loài Ilex kudingcha C.J Tseng (1981). Vào năm 1998, các tác giả Y.X.Fesg, S.K Chen, R.F.Zhao và C.F Liang nhận thấy các mẫu đó không đồng nhất và đã phân thành 4 loài khác nhau như: I.pentagona, I.kaushue, I.latifolia và I.dunniana. Trong Thực vật chí Vân Nam (Flora Yunnanica), Y.R.Li (1996: 233) đã nêu ra những đặc điểm định loại sau:
1. I. kaushue: Cành và cuống hoa có lông tơ thưa, phiến lá dài 13-16cm, rộng 5-6cm, gân bên rõ ở cả hai mặt. Cụm hoa mọc tụm là dạng chùm giả với trục cụm hoa dài gần 1cm; đài của hoa đực hình đĩa; nhị ngắn hơn cánh hoa.
2. I.latifolia: Cành và cuống hoa hoàn toàn không có lông, phiến lá dài 8 - 17cm, rộng 4,5 -7,5cm, gân bên chỉ rõ ở mặt dưới, không rõ ở mặt trên, cụm hoa dạng tán giả, gần như không có cuống; đài của hoa đực hình đấu, nhị dài bằng cánh hoa.
Đến nay, tác giả Nguyễn Tiến Bân đã khẳng định Chè đắng, Ché khôm hay Khổ đinh trà ở Việt Nam cần mang tên khoa học đúng đắn là Ilex kaushue S.Y.Hu. Còn tên I.kudingcha C.J.Tseng là tên đồng nghĩa và tên Ilex latifolia hiểu theo Lê Đình Khả cũng vậy. Như vậy, nghĩa là ở Trung Quốc có cả Ilex kaushue S.Y.Hu và Ilex latifolia Thunb. ex Merr. Còn loại Chè đắng của nước ta là Ilex kaushue S.Y.Hu.
Chè đắng phân bố ở Lào Cai (núi Hàm Rồng, thị xã Sa Pa ), Cao Bằng (Nguyên Bình: Mai Long; Hạ Lang: An Lạc, Đồng Loan, Đức Quang; Thái Đức: Quảng Hoà, Mỹ Hưng, Tiên Thành; Thạch An: Đức Xuân, Nà Tục, Tục Ngã, Pắc Lùng) Hào Bình (Yên Thuỷ, Phố Sấu), Ninh Bình (Cúc Phương, Đồng Cơn). Còn ở Trung Quốc (Hồ Bắc, Hồ Nam, Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Nam tới đảo Hải Nam ).
Trước đây, trong bài viết “Các cây thuốc thuộc chi Ilex L, họ Nhựa ruồi hay Bùi – Aquifoliaceae”, tôi có nêu tên cây Chè đắng như các tác giả Nguyễn Tiến Bân và Nguyễn Khắc Khôi đã nêu năm 1999. Theo tác giả Lê Đình Khả, cũng có thể là ta có nhập trồng loài Ilex latifolia Thunb.ex.Merr. Tôi chưa được xem mẫu vật của loài sau nên chưa thể khẳng định. Trong khi chờ đợi thì việc viết theo tên đã được nhà thực vật học Nguyễn Tiến Bân định loại và công bố là chính xác.
Như vậy, rõ ràng là không thể tìm thấy tên đúng của cây Chè đắng trước năm 1999 khi nó chưa được công bố chính thức. Tuy nhiên, việc thu thập của loài này đã được tiến hành ở nhiều địa phương từ những năm 1970 - 1971 cho đến 1996 - 1997 nên trong các sách về Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ), Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi) cũng chưa thể nêu được khi chưa có căn cứ khoa học chính xác.
Những công bố gần đây có nêu đến các tên như Ilex kudingcha, I. latifolia là do nhiều sách của Trung Quốc khi viết về Khổ đinh trà đã giới thiệu cùng các cây khác như I. cornuta Lindl. và một số loài Nữ trinh như Ligustrum nepalense Rehd., L. japonicum Thunb. Var. pubescens Koidz; cũng dùng như Khổ đinh trà và lá có vị đắng nấu uống như chè.
Về tên Khổ đinh trà, có nhiều tác giả cho biết là cây được gây trồng ở thôn Khổ Đinh, xã Long Môn, huyện Đa Tân, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Người ta chế thành dạng trà vo viên lớn (Khổ đinh trà ở Quảng Tây) hay vo viên nhỏ (Khổ đinh vương ở Hải Nam ).
Ta gọi là Chè đắng, có khi nói rõ hơn là Chè đắng Cao Bằng vì xuất xứ việc sử dụng là từ Cao Bằng và hiện nay ở Cao Bằng chè này mọc tự nhiên ở nhiều nơi.
Về công dụng của Khổ đinh trà, các sách khác nhau đã nêu:
- Sách Thực dụng Trung thảo dược nguyên sắc đồ phổ nêu tên Ilex kudingcha C.J.Tseng với tính vị đắng, ngọt, mát, có tác dụng tán phong nhiệt, thanh đầu mục, trừ phiền khát. Dùng trị đau đầu, đau răng, mắt đỏ, tai điếc, tai giữa chảy mủ, nhiệt bệnh phiền khát, lỵ, đau họng, bỏng lửa. Liều dùng 3 - 10g, dùng ngoài không kể liều lượng. Thể hư dùng phải cẩn thận.
- Sách Trung thảo dược thái sắc đồ phổ ghi tên Ilex latifolia Thunb với tính đại hàn, vị đắng, ngọt, có tác dụng tán phong nhiệt, thanh đầu mục, trừ phiền khát. Dùng trị đau đầu, đau răng, mắt đỏ, nhiệt bệnh phiền khát, lỵ.
- Sách Vân Nam trung dược tư nguyên danh lục ghi Ilex latifolia Thunb với bộ phận dùng là lá, có tính vị đắng, mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tân sinh, chỉ khát. Dùng trị bệnh sởi, đau bụng, bệnh hậu phiền khát, bệnh sốt rét.
- Sách Trung dược đại tự điển ghi 2 loài Ilex cornuta Lindl và I.latifolia Thunb có vị đắng, ngọt, có tác dụng tán phong nhiệt, thanh đầu mục, trừ phiền khát. Dùng trị đau đầu, đau răng, mắt đỏ, tai ù, nhiệt bệnh phiền khát và bệnh lỵ. Sách này còn dẫn ra nhiều nguồn tư liệu khác nhau như sách Bản thảo tái tân có nêu loại trừ chất béo; sách Trung Quốc khoa học đại từ điển nêu là hoạt huyết mạch, lương tử cung; sách Tứ Xuyên trung dược chí nêu là trị được ăn uống không tiêu; sách Cương mục thập di nêu là hoạt huyết, tuyệt dựng....
Như vậy, khi đúc kết, người ta chỉ nêu lên những cái phổ biến nhất, còn những hiệu dụng khác chưa thể nêu hết. Ví dụ: vấn đề triệt sản chẳng hạn, chưa có ai dùng nhiều năm để kiểm chứng. Cần có thời gian sử dụng lâu dài để có thể hiểu hết giá trị của loài chè này.
Tác giả Nguyễn Tiến Bân viết trong Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2003): “Lá dùng uống thay chè, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trừ khát thanh tân, dùng cho bệnh sốt khát nước, đau đầu, đau răng, đau mắt, chữa lỵ. Theo tài liệu Trung Quốc đây là loại chè nổi tiếng ở Quảng Tây. Loại chè thuốc được dùng để biếu tặng các quan chức cao cấp thời phong kiến. Uống chè thường xuyên có tác dụng làm trí óc minh mẫn, lợi tiểu, giúp tiêu hoá, giải khát, giải độc, giữ trữ lượng cơ thể, kéo dài tuổi thọ”
Tác giả Lã Đình Mỡi viết về Chè đắng trong Tài nguyên thực vật Đông Nam á (3-2003): “Theo kết quả nghiên cứu sơ bộ, trong lá Chè đắng có 5 nhóm chất là saponin, triterpen, flavonoit, axit hữu cơ, polysaccharit và carotenoit, trong đó các nhóm saponin và flavonoit có hàm lượng đáng kể. Mặt khác các thử nghiệm đều không tìm thấy alcaloit và glucosit”.
Cũng cần chú ý là cây Chè đắng Nam Mỹ - Ilex paraguariensis A.St. Hil (cùng chi với cây Chè đắng nước ta) đã được sử dụng lâu đời ở Nam Mỹ. Từ sau 1670, khi những người truyền giáo Tây Ban Nha đưa cây này vào trồng thì nó trở thành một cây có giá trị kinh tế cao hơn hẳn so với cây chè, được sử dụng quen thuộc ở nhiều nước Nam Mỹ, Bắc Mỹ và Châu Âu. Các thông tin về cây Chè đắng Nam Mỹ là những tài liệu tham khảo có giá trị khi sử dụng cây Chè đắng ở nước ta.
Các tác giả Nguyễn Tiến Bân và Nguyễn Khắc Khôi từ tháng 3 năm 1999 đã viết: Chè đắng - một loại thân gỗ bản địa của vùng núi đá vôi là một cây kinh tế có triển vọng cho các vùng cao núi đá có đồng bào dân tộc ít người sinh sống. Nó rất cần được nhân giống và đưa vào trồng ở các tỉnh miền núi, phục vụ chương trình trồng 5 triệu hecta rừng của nhà nước. Tuy mới trồng thử ở một vùng - vài điểm ở Cao Bằng nhưng đồng bào địa phương đã nhận xét: “Chè đắng là loại cây trồng rừng có giá trị kinh tế cao”